Hôm nay,  

Nhà Thơ Tản Đà

21/05/201700:00:00(Xem: 5483)
Một nhà thơ lớn của dân tộc -- cụ Tản Đà -- cũng sinh ngày 19 tháng 5. Đa tài, viết trong nhiều lĩnh vực, và đã trở thành một ngọn núi văn học đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam.

Theo Tự Điển Bách Khoa Mở, nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 - mất ngày 7 tháng 6 năm 1939 -- tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu thư, rồi Hiệu trưởng trường Tân Quy, Đốc học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, được ông Tích nhiệt tình hướng vào con đường cử nghiệp. Theo hồi ký trong 1 bài thơ thì 5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết,... 6 tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết làm câu đối, 11 tuổi làm thơ văn. Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Lúc còn học ở trường Quy thức - một trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở ở Hà Nội-, ông viết bài "Âu Á nhị châu hiện thế" bằng chữ Hán, được các báo ở Hồng Kông đăng trong mục xã thuyết. Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời.

Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần đi thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập. Trong thời gian này, ông say mê một cô gái bán tạp hoá ở phố hàng Bồ. Vì nhà nghèo, không có tiền hỏi cưới, ông đành nuôi hy vọng bằng cách tiếp tục đường khoa cử. Kỳ thi xảy đến, ông dùng bằng Ấm sinh để thi hậu bổ, nhưng bị rớt vì môn vấn đáp bằng tiếng Pháp. Mùa thu năm ấy, ông lại đi thi hương, nhưng lại trượt. Chuyện tình với cô bán sách tan vỡ, cô đi lấy chồng. Ông chán nản bỏ về Hòa Bình tìm khuây lãng. Tại đây nhờ sự giới thiệu của anh rể là nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi. Hai người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên, đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc". Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi. Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của ông ra đời trong giai đoạn này.

Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Yên làm nghề báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn Vĩnh, phụ trách mục "Một lối văn nôm".

Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con trai ông là Nguyễn Mạnh Hương tri huyện ở tỉnh Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà văn Phan Khôi. Ông Hương là thân sinh của nhà văn Nguyễn Tiến Lãng. Cũng năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên "Đông dương tạp chí", nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.

Và từ đó, ông trở thành một văn tài lớn, thơ hay và văn hay. Có rất nhiều giai thoại đan xen trong đời Tản Đà, trong đó có 4 mối tình để lại các dấu ấn sâu sắc trong thơ.

Nơi đây, chúng ta ghi vài lời nhận xét.

Nhà văn Nguyễn Tuân:

“Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Nhà thơ Bùi Giáng viết:

“Nếu tiên sinh còn sống, ắt tại hạ xin được phép cùng tiên sinh nhậu nhẹt một trận lu bù. Thơ của tiên sinh làm, chẳng có chi xuất sắc. Nhưng bản dịch "Trường hận ca" của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết:

“Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết:

“Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Sài Gòn, nhu cầu tuyển người giúp việc nhà tại các gia đình ở các quận nội thành rất lớn nhưng không tìm đủ người. Trước thực tế khó tìm được người giúp việc nhà ở luôn trong nhà, nhiều gia đình chuyển hướng tìm người giúp việc đến làm theo giờ. Theo họ, tuyển lao động làm việc theo giờ có nhiều cái lợi như đỡ phải lo ăn, ở và chi phí thấp hơn nhiều.
Theo báo Người Lao Động, hơn 1 năm trở lại đây, tranh được bày bán ở phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, đột ngột rớt giá, nguyên nhân là bởi hiện tượng tranh nhái tràn lan. Theo 1 họa sĩ có thâm niên trên 35 năm trong nghề, 5 năm trước đây các phòng tranh ở Hội An không có tranh nhái. Du khách rất an tâm khi mua tranh và tranh bán cũng rất chạy.
Theo báo SGGP, tại Sài Gòn, mỗi năm có thêm hàng ngàn phòng học mới nhưng các cơ quan ngành giáo dục tại các quận, huyện năm nào cũng than thiếu phòng học, người dân phiền vì sĩ số học sinh của các lớp học đã "quá tải". Trình bày về hiện trạng trường lớp tại các quận, huyện của SG, báo SGGP ghi nhận rằng chỉ trừ một vài huyện ngoại thành không bị áp lực tăng dân số
Tại miền Đông Nam phần, có xã Phú Lộc là một trong nhiều xã ở huyện Tân Phú (tỉnh Đồng Nai) là "miền đất hứa" của bò cạp. Ở vùng đất đá này, bò cạp sinh sôi nhiều đến mức người dân địa phương có thể tìm thấy chúng bất kỳ chỗ nào, nhất là dưới các tảng đá lớn.Trước đây, cứ sau mỗi trận mưa to là bò cạp "tung tăng" khắp nơi, người dân phải tránh.
Theo ghi nhận của báo SGGP, tại miền Tây Nam phần VN, xăng dầu, đường cát, hàng điện máy, điện thoại di động, thuốc lá, vải... ở khu vực biên giới Việt Nam và Cam Bốt đang chênh lệch giá rất cao. Hàng lậu vì thế đang tràn về như nước lũ, xâm nhập ào ạt vào thị trường nội địa. Báo SGGP ghi nhận hiện trạng này như sau.
Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, tại các trường đại học của VN, dường như nghiên cứu khoa học chỉ là công việc "tay trái" của các giảng viên , khi trung bình cứ hai, ba giảng viên mới có một người "liên quan" đến các công trình nghiên cứu. Đa số các giảng viên làm công việc mà một số nhà giáo dục gọi là "thợ dạy". Báo TT ghi nhận thực trạng này như sau.
Trên địa bàn thành phố Sài Gòn, 65 năm nay tồn tại một làng mà hầu hết trai tráng sống bằng nghề lặn tìm sắt thép phế liệu. Làng lặn hiện đã trở thành khu phố, nhưng trông vẫn chẳng khác gì những ngôi làng miệt sông nước miền Tây với những chiếc ghe neo san sát dưới sông, còn trên bờ là những ngôi nhà tuềnh toàng.
Theo báo Tuổi Trẻ, trong những ngày vưà qua, tại miền Tây Nam phần, đại dịch bướm đã khiến người dân tỉnh Hậu Giang thức trắng "đánh đàn" vì ngứa. Tại thị xã Vị Thanh, dịch bướm đã hoành hành từ một tháng này, nhiều người dân trong thị xã khổ vì bị bướm bám theo gây ngứa. Báo TT ghi nhận tình trạng dịch bướm tại địa phương này như sau.
Tại phường 4 quận 8 thành phố Sài Gòn, có 1 lớp học rất đặc biệt do 1 nữ giáo viên già phụ trách. Lớp học này là chiếc phao cứu sinh cho những đứa trẻ không có điều kiện đến trường, cho dù là trường bổ túc. Với 1 ngàn/buổi học, có học sinh đã học hết lớp 4, rồi vào lớp 5 bổ túc, sau đó học tiếp lên trung học. BáoNgười Lao Động viết về lớp học này như sau.
Theo báo quốc nội, trong năm 2003, công suất bia của cả VN đạt 1.29 tỷ lít, đến năm 2004 đã vượt lên 1.37 tỷ lít. Dự kiến năm 2005 sản lượng bia của toàn VN vượt xa mức 1.5 tỷ lít. Về tình hình kinh doanh, trong những năm qua đã có hàng chục nhà máy bia địa phương được đầu tư để rồi thua lỗ, vì không chen chân tìm được chỗ đứng trên thị trường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.