Hôm nay,  

Thơ Mộng Cao Nguyên

10/10/199900:00:00(Xem: 8025)
Bạn thân,
Gầu là gái. Tiếng của người H’Mông. Bạn không thể hình dung cái thơ mộng của chàng trai Kinh, em gái Thượng khi lòng lưu luyến nhau, nhưng phải đành lòng xa nhau, cứ hệt như chuyện Rồng Tiên năm xưa. Khi cô gái H’Mông đỏ mặt, bảo là chàng phải ở lại núi, thì chàng mới hoảng, len lén rút về thành. Và khi chàng đi thì em gái Thượng mới ngẩn ngơ nhìn theo khói xe... Tôi biết rằng bạn bên Mỹ, cũng như tôi ở Sài Gòn này, không còn bao nhiêu thơ mộng nữa, nên trích đoạn một mảng du ký cao nguyên nơi đây cho bạn đọc.
“Sống trên đá, chết đá đèo,” người ta nói thế về cư dân trên cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc (Hà Giang). Hàng ngày đường chúng tôi đi trong đá, quanh co bên những vách đá dựng đứng màu xám với những đường nét sắc nhọn. Thảng khi gặp một túp nhà người H’Mông như tổ chim bám vào vách đá cheo leo. Người H’Mông xếp đá bao quanh nhà, vài cây cải mèo cũng rào khoanh bằng đá. Người đàn bà H’Mông nhẫn nại gùi đất từ vực sâu trèo ngược dốc đổ đất lên triền đá, kè đá, tạo thành những miếng đất bằng phẳng con con tích tụ nước mưa. Người đàn ông H’Mông cặm cụi cày trên lớp đất mỏng lổng chổng đá. Lưỡi cày nhỏ, cực sắc, toé lửa mỗi lần vấp đá rắn. Những luống cày vì thế ngoằn ngoèo do người cày tránh đá, cố gạn lấy chút đất trồng trọt. Giữa trưa hơi nóng toả từ đá hầm hập, người có thể đổ máu mũi vì cái nắng khô gay gắt. Con bò nghỉ cuối đường cày, cam chịu gậm những lá cây hiếm hoi trên các bụi gai...
Nhưng đến chiều trên Mã Pì Lèng tắt nắng, đá núi nguội rất mau. Đứng trên bờ cao nguyên nhìn xuống dòng sông Nho Quế, chẳng có cảnh nào hùng vĩ, đáng kinh ngạc hơn. Dưới sân hun hút hàng cây số sương mù lạnh bắt đầu dâng lên mù mịt... Chúng tôi xuống xe đi bộ, đá dăm lạo xạo dưới chân, yên tĩnh hoàn toàn. Một cậu bé người H’Mông ngồi trên tảng đá đăm đăm nhìn xuống. A Sìn - nhờ anh Dử hỏi, tôi biết tên cậu bé - Em ngồi chơi" - ừ. - Nghĩ gì vậy" Tôi thử thân mật. - Chẳng nghĩ gì. Tôi tin cậu chẳng nghĩ gì, chẳng quen với việc con người luôn phải nghĩ cái gì. Khuôn mặt cậu thanh thản nhất, cặp mắt trong sáng nhất mà có lẽ đời tôi sẽ chỉ một lần bắt gặp. Nó thuộc về thiên nhiên, là chi tiết của thiên nhiên hoang vu.

Đêm, chúng tôi dừng ở một nhà cán bộ xã. Trong số các cán bộ xã, có cán bộ A Trống. Mọi người giới thiệu A Trống rất giỏi cơ khí, người H’Mông nào cũng giỏi cơ khí. Người đàn ông áo chàm xơ xác, mặt góc cạnh, mắt một mí, ngồi khuất sau lưng những người đang rượu vào nói cười vui vẻ.
A Trống rèn dao, rèn lưỡi cày sắc bén, dùng sức nước khoan thanh xàbeng thành nòng súng... A Trống à, rót rượu nữa nào. ừ! Trống à, lấy thêm cái chén, đôi đũa... ừ! Mỗi lần nghe ai gọi, A Trống lại sốt sắng nhổm dậy chạy đi chạy lại. Nhưng anh không hay chuyện, anh im như đá núi. Trong ánh lửa đêm leo lét, bất giác tôi nhớ mấy câu dân ca của người H’Mông: Tối trời không biết tối gì trời/ Tối trời tối con bò mộng trời/ Con bò mộng kêu ầm vang sắp gần nhà/ Cũng là lúc anh đrâu H’Mông (anh trai H’Mông)/ Đeo thanh kiếm lên đường/... Đi đến chân nhà em gầu H’Mông (cô gái H’Mông)/ Thấy em gầu H’Mông/ Cùng chồng ôm đùi nằm.
Lời ca da diết đến nỗi sớm hôm sau trên đường về Quản Bạ, xe ghé một cái chợ ven con đường đá, tôi hăng hái len vào tìm một em gầu H’Mông. Mùa khô đã trút hết lá lợp lán, chỉ còn chằng chịt những bộ khung cành cây đen thẫm. Đàn ông áo chàm đen, tay mỗi người cầm cái bát nhựa đỏ đựng rượu như than hồng. Họ quây quần bên chảo thắng cố, ực hết bát rượu, cơn hứng khởi đến, các chàng trai ôm khèn khom người, vừa thổi vừa đảo khèn quay tròn.
Em gầu H’Mông chắc nịch, xinh đẹp của tôi người H’Mông Hoa, tôi theo từ đầu chợ xuống cuối chợ. So với lối ăn mặc sơ sài của dân đô thị, em giống một nữ hoàng. Không có chỗ nào trên bộ áo váy của em không thêu chỉ màu sặc sỡ. Lại nhờ anh Dử dịch, tôi thẳng thắn mời em bát thắng dền (bánh trôi nước). Em đỏ mặt, chăm chú nhìn tôi. Rồi tôi hoảng sợ thấy em nói gay gắt với anh Dử đang luống cuống. Câu chuyện dài rút lại là: Tao sẽ ăn, nhưng xe chúng mày về, nó phải ở lại đây... Mặc dầu đã nhiều người xúm lại, nhưng cuộc rút lui của chúng tôi vẫn lặng lẽ theo lối người thành phố.
Xe tiếp tục chạy trên con đường hiểm trở. Qua khúc quanh nó chạy chậm, chợt tôi sửng sốt thấy em gầu H’Mông đã đứng đợi. Hẳn tôi đừng liều lĩnh xuống xe. Nên khi nó vượt qua em và đổ dốc, tôi ngước lên thấy thân thể em gầu H’Mông in trên khung trời xanh giữa những dãy núi đá khắc khổ…

Bạn thân,
Thơ mộng ha. Hy vọng bạn có ngày cuối tuần vui.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong ký ức nhiều thế hệ người Sài Gòn còn in đậm hình ảnh những người thợ bận rộn nhồi bột, vo nhân, in khuôn nướng bánh trung thu phục vụ khách qua đường vào những năm đầu 1960 trên trục đường Trần Hưng Đạo nối liền Sài Gòn - Chợ Lớn lúc nào cũng người mua kẻ bán sầm uất. Đó là hình ảnh những người thợ làm bánh trung thu của Nhà hàng Đồng Khánh, góc đường Trần Hưng Đạo - Đồng Khánh (cũ), quận 5. Báo Người Lao Động viết như sau.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, gần 30 năm qua, hàng chục ngàn dân ở Thủ Đức phải dùng nước không bảo đảm vệ sinh. Điều nghịch lý là nhiều gia đình sống gần nhà máy nước Thủ Đức nhưng luôn "khát nước". Tại nhiều khu vực, nguồn nước để người dân sử dụng chủ yếu vẫn là giếng khoan. Mặc dù độ sâu của giếng thường trên 60m
Tại ở ấp Chánh Mỹ, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, sáng nào người dân cũng thấy một ông lão trạc 80 tuổi mặc cái áo bành tô, quần "bò" bạc màu, đầu trần, chân mang đôi dép da có quai hậu ngồi trên chiếc ghế đá ở đường Bạch Đằng - cạnh bờ sông chuẩn bị cho một ngày mới với công việc đánh xe ngựa. Ông lão này là một trong hai người đánh xe ngựa cuối cùng ở thị xã tỉnh lỵ Bình Dương
Theo báo Thanh Niên, công an CSVN thành phố Sài Gòn vừa bắt 1 tay đạo chích thuốc hàng cao thủ: chỉ trong vòng hơn 1 năm, trộm liên tục đột nhập vào các cơ quan công quyền CSVN (có nhân viên bảo vệ hẳn hoi) giữa ban ngày và ung dung dắt ra khỏi cổng hàng chục chiếc xe của các quan chức, nhân viên. Báo TN ghi lại "thành tích đạo chích" của kẻ trộm này như sau.
Trong thời gian gần đây, tình trạng chơm bản quyền khơng chỉ xảy ra trong giới soạn nhạc, mà cịn lan sang sân khấu cải lương, thoại kịch, và cả hài kịch. Về sân khấu hài, thành phần bị chơm bản quyền là những diễn viên từ quê lên tỉnh. Lợi thế của những diễn viên nàu là biết ca vọng cổ, nên việc sáng tác các tiểu phẩm hài kịch "mì ăn liền" khơng khĩ
Tại SG, có 1 thanh niên kiếm sống nhờ dịch vụ trang điểm cho gái bán bar. Chỉ với bộ đồ nghề đơn giản vài ba thỏi son; hai cây chổi quét mặt loại lớn, nhỏ; một cây chì kẻ; hai, ba hộp phấn màu..., nhưng qua bàn tay của thanh niên này, khuôn mặt các cô phục vụ bar trở thành một "thế giới nổi loạn". Tin Nhanh VN viết về thanh niên này như sau.
Tại VN, luật sư được dân gian gọi là "thầy cãi", phần nào chỉ sự ăn nói khôn khéo của họ trước pháp đình. Tuy nhiên, đôi khi họ cũng phải vướng vào tình cảnh "thần khẩu hại xác phàm". Báo Thanh Niên ghi lại 1 số trường hợp như sau. Cuối tháng 8/2004, ông Nguyễn Xuân Ngữ (59 tuổi, ngụ tại phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9, TP.SG) đã gửi đơn đến Tòa án Quận 9
Theo báo quốc nội, toàn thành phố SG có 57 nhóm hài đang hoạt động, trong số đó có đến 2/3 số diễn viên xuất thân từ các đoàn cải lương miền Tây Nam phần. Các đoàn tan rã, họ lên Sài Gòn đi tấu hài kiếm sống. Để được làm diễn viên hài có khi họ phải trả bằng nước mắt.Khi sân khấu cải lương lâm vào cảnh đìu hiu, nhiều nghệ sĩ cải lương rẽ sang nghề tấu hài để nuôi sống gia đình và bản thân.
Tại Sài Gòn, nhà hàng, quán nhậu là nơi tiếng hát bị át đi bởi tiếng cười, nói và tiếng cụng ly của dân ăn nhậu. Do vậy, những nơi này là điểm dừng chân của các ca sĩ mà "sự nghiệp" âm nhạc "lận đận" hay đã kết thúc ở các phòng trà.Báo Người Lao Động ghi nhận tình cảnh của những ca sĩ hát ở quán nhậu qua đoạn ký sự như sau.
Theo báo quốc nội, trên con đường Lê Công Kiều, quận 1 TPSG, có 1 khu phố với những cửa hàng nho nhỏ khiêm tốn bày bán các mặt hàng đồ cổ và đồ mỹ nghệ. Đây là địa chỉ khá quen thuộc của du khách trong và ngoài nước. Việc kinh doanh đồ cổ và giả cổ tại con đường này bắt đầu từ những năm 1980 và bắt đầu phát đạt từ thập niên 1990


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.