Hôm nay,  

Thơ Thơ

19/04/200400:00:00(Xem: 11076)
Còn Nhớ Hay Không"

Tháng Tư, còn nhớ hay không
Quê hương bức tử chất chồng đắng cay
Xót ai nâng súng ngang mày
Với quê, tuẫn tiết trong ngày mất quê!
Tháng Tư, tiền sử quay về
Rừng hoang kiếp thú ê chề nỗi đau
Tháng Tư, biển biếc, máu đào
Tiếng than trinh nữ rơi vào hư không!
Tháng Tư, Tô Thị đợi chồng
Thân cò lặn lội bờ sông tội tình
Tháng Tư, dân tộc điêu linh
Vành tang cô phụ thắm tình núi sông
Tháng Tư, nói mãi không cùng
Hỏi người còn nhớ hay không, hở người"
Phần tư thế kỷ đau vùi
Thương dân thương nước, ngậm ngùi, những ai"

Ngô Minh Hằng

*

Tháng Tư Đen

Ngày rời Nước ra đi bao hận tủi
Ngày điêu tàn đất Nước phủ màu tang
Lòng buồn đau khi rời bỏ xóm làng
Thân lữ thứ, đời lưu vong xứ lạ

Bao năm rồi, lòng vẫn buồn khôn tả
Nhớ Quê nhà, thương xót cảnh lầm than
Dân Việt tôi vẫn đói khổ cơ hàn
Tháng Tư đến gợi thêm buồn khóc hận

Mảnh Quê nghèo bao năm dài lận đận
Lũ bạo tàn dày xéo nát Quê hương
Tháng Tư đen, ngày chia cắt đoạn trường
Quê hương đó vẫn hoài trong nỗi nhớ

Bút mực nào cho ta lời bày tỏ
Ta kiêu hùng vì giòng máu Việt Nam
Đau buồn thay bọn Cộng phỉ hung tàn
Đem mảnh đất dâng quan Thầy Trung Cộng

Hỡi lương tâm, trái tim còn rung động
Hãy cùng nhau xiết chặt nối vòng tay
Cùng đứng lên ta xây dựng ngày mai
Cho nước Việt thanh bình vui trở lại

Nguyễn Vạn Thắng

*

Nỗi Buồn Tháng Tư

Tháng Tư đất nát trời tan
Máu người loang đỏ lá ngàn, nước sông
Lúa không mọc ở cánh đồng
Mà xương trắng lại chất chồng thành non
Tháng Tư súng tủi, gươm hờn
Sông đau từng mạch, núi buồn từng phân
Rừng hoang lạ lẫm dấu chân
Vầng trăng tiền sử mấy tầng mây che
Bốn phương âm khí não nề
Ngọn roi qủy đỏ tái tê hồn người
Tháng Tư ngọc vỡ, châu rơi
Biển Đông thủy quái say mồi trần gian
Máu đào, sóng bạc hòa tan
Ai gây thảm cảnh da vàng"! Thương ơi!
Tháng Tư đau đớn phận người
Ba mươi năm vẫn còn tươi vết bầm!!!

Ngô Minh Hằng

*

Buồn Vu Vơ

Ta cứ lần khân ơœ chốn này
Tháng năm cứ thế vụt mà bay
Mênh mông mà vẫn như tù túng
Thèm một lần tung lướt gió mây
Bỗng thấy ta dư, có cũng thừa
Thấy hồn rỗng tuếch sầu đong đưa
Tự dưng thèm nhaœy lên giàn hoœa
Để thét gào thiêu đốt nhục xưa
Trăng cứ thập thò núp mái hiên
Săm soi chi mãi nỗi ưu phiền
Lòng ta hổ thẹn từ lâu lắm
Từ lúc đời trôi bám mạn thuyền
Như đẩy con thuyền trên nước ngược
Hò dô ta mãi muốn tàn hơi
Buông tay sợ sóng vùi theo nước
Uổng phí công lao gắng sức bơi.

Trần Ngân Tiêu

*

Theo dấu người xưa

Tình ta ngày ấy đã phai mờ
Lạnh nhạt tan rồi chuyện mộng mơ
Nhớ thương chi nữa hình bóng ấy.
Vì chút duyên hờ phải nhả thơ

Ngày ấy tôi chờ đến ngẩn ngơ
Tôi mong tôi đợi đến thẫn thờ
Hai ta có lẽ không nên phận
Gẫy đổ tình duyên thật bất ngờ

Răng chừ còn tiếc chuyện ngày xưa
Cung thương cung oán trổi sao vừa
Tình ai lẩn khuất vào dĩ vãng
Trăng thề nhạt bóng gió thu đùa

Lặng lẽ âm thầm lúc bão giông
Mưa xuống Trời khuya lạnh cõi lòng
Viễn xứ anh sầu vì lẻ bóng
Quê người tôi sợ cảnh đông phong

Ôm hoài kỷ niệm có vui chăng"
Gió mưa lịm dấu nợ xích thằng
Bể trần tục lụy nhiều hư ảo
Định mệnh an bài bởi nghiệp căn.

Hương Giang

*

Đàn Thu

Hơi thu nhuốm vàng sắc lá
Lá vàng rụng tiếng thu không
Hồn ai lạc vào kiếp đá
Nghe chừng trời chớm sang đông

Thu mênh mông, thu mênh mông
Người đi tìm thu nơi nơi
Người đi mời thu vào lòng
Buồn đời thu lên chơi vơi

Thu ơi! Đêm nao bên hồ
Trăng vàng buông tơ long lanh
Người thơ về trên đồi thông
Mơ màng nhìn thu mong manh

Năm xưa thu đi vào đời
Trăng tình gieo vào lòng ai
Năm nay còn đâu người ơi
Vành trăng gầy mòn hình hài.

Phong Vũ

*

Ngàn Xa Quê Mẹ Ai Không Nhớ

*Gưœi Nguyễn Bá Thoại - VA

Con tôm đất - hương bông so đũa
Tháng mười hai - gió chướng bụi đường
Đồng khô neœ - xong rồi vụ lúa
Chờ Tết về - gạo mới đưa hương

Bao giờ trơœ lại Gò Công nhỉ
Long Chiến cầu xưa gió chướng về
Áo em lụa trắng vui ngày lễ
Tuổi học trò vụt thoáng cơn mê...!

Nồi cơm gạo mới con tôm đất
Mẹ cắt đầu rang muối ớt đường
Thịt tôm cứng ngọt hay tình mẹ
Ghi rõ lòng con ý nhớ thương...

Bao giờ về lại nơi nhau rún
Làng Tân Trung thăm lăng Quốc Công
Bà con quê cũ còn nghèo lắm
Vẫn sống bên trâu với ruộng đồng...

Canh chua tôm đất bông so đũa
Muối ớt sừng trâu đoœ thắm màu
Rượu đế Bình Ân thơm nếp mới
Ngồi đây mà nhớ tuổi thương đau...!

Mỗi lần về phép mẹ mừng lắm
Tíu tít lo cơm nước đuœ đầy
Mẹ nghĩ thằng con thường khát đói
Gió sương nghiệp lính ướp đời trai...!

Cá kèo kho chỉ nêm thêm hẹ
Cuœ caœi trắng bào, chút rau thơm
Toœi phi thơm phức, chanh đường ớt
Cơm gạo nanh chồn deœo thật ngon...

Mẹ ơi! Quê mẹ còn nguyên đó
Gió lộng cờ sao tanh máu tươi
Con vẫn muốn về thăm quê cũ
Giặc kia còn đó - héo nụ cười...!

ƠŒ đây con nhớ lòng tha thiết
Nhìn khói hoàng hôn quyện gió chiều
Mâm cơm dưới ngọn đèn dầu lưœa
Bóng ngã đêm về lệch gió xiêu...

Ngàn xa quê mẹ ai không nhớ
Trái ớt, cây cà... lối bước xưa...

Thy Lan Thaœo

*

Người

Người gọi thiên thu thuở xa người
Ta đời đang một tách làm đôi
Dõi vạt hương xuân chìm nơi ấy
Vời vợi bờ môi tiếng thở dài

Này, ghét gì nhau hở! Ngậm ngùi
Những chiều mưa đổ thật là siêng
Giăng đầy tiếc nuối vờn ngây dại
Tận đáy hồn trơ dậy muộn phiền

Một ngày soi gương khuôn mặt lạ
Mấy mùa hoang phế trổ mầm cao
Người, mây biền biệt bay cùng gió
Tôi, núi triền miên đứng đợi chờ

Đêm hỏi thời gian xin đừng bước
Cho ngày thêm mãi những chiêm bao
Ai về cổ tích xưa hay kể
Chợt nhói bàn tay mảnh hẹn hò
Tình tự đôi ta dòng bụi bặm
Bao giờ" Trải rộng khắp thế gian
Hư không nắng rọi mầu u ẩn
Tôi vẫn đường xa áo ngả vàng

Áo vàng vai trật giả huỳnh y
Khất thực tương tư trả nợ người
Xòe tay bình bát đùa năm tháng
Lăn tròn giọt mặn vỡ chân mây

Vô giác vô tri lại bồi hồi
Hồn nhiên đọng chút trở mình trôi
Cố nhân chắc hẳn trong tiền kiếp
Bởi vì ngày cũ giấc mơ thôi.

KiếnAn

*

Cõi Lòng Ta

Đêm đêm tỉnh giấc nhớ quê nhà
Nhớ dáng mẹ hiền nhớ dáng cha
Nhớ thầy dậy viết tô từng nét
Nhớ mái trường làng rợp bóng đa.

Nhớ dòng sông Cấm xuôi về biển
Mưa nguồn chuyển taœi nặng phù sa
Nhớ con đò nhoœ ngang dòng chaœy
Cô gái đưa đò hát tình ca.

Vào hè phượng vĩ lung linh nắng
Ra raœ ve ngân ơœ quanh nhà
Nhớ xóm làng ta khi tỉnh giấc
Nhớ từng tên ngõ với tên nhà.

Chưa về viếng mộ thầy xưa học
Viếng mộ mẹ cha mộ ông bà
Dâng nén Tân hương quỳ xuống lạy
Cõi lòng xa nhớ hương quê nhà.

Triệu Nam

*

Người Nữ Bưu Tín Viên

Xe thư, chiều, đến trước nhà
Có người bưu tín viên qua mỗi ngày
Từ xa, em nhẹ vẫy tay
Phaœi chăng em biết có ai đợi nàng
Ta không mong đợi thư, bằng
Đợi mong một suối tóc vàng mát xinh
Đợi thư là cớ để nhìn
Mong thư là dịp cho tình nơœ hoa
Xe thư đâu phaœi xe hoa
Em là tài xế hay là cô dâu"
Thư trao, tình, biết có trao"
Tình, thư trao caœ, ta nào dám chê
Xe thư lại chuyển bánh đi
Nhìn theo suối tóc, ai thì ngẩn ngơ.

Lưu Thái Dzo

*

Thu Đến

Sớm nay chợt thấy thu về
Lá xao xác rụng - gió se mặt đường
Lưng trời xanh nhẹ màn sương
Mặt hồ xanh những nỗi buồn đuổi nhau

Người đi xa đã từ lâu
Mà mùa thu đến vẫn đau lá vàng
Con thuyền xuôi bến đò ngang
Dòng sông nào chẳng khúc buồn khúc vui

Tôi đi bên cạnh một người
Mà tâm hồn tận cuối trời mùa đông

Nếu đời là một dòng sông
Tôi xin là cánh bèo không bến bờ
Để mùa thu chẳng bao giờ
Gọi dông bão đến cho thơ tôi buồn.

H.T.M.K.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm đầu tiên vào Sài gòn, tôi được anh chở trên chiếc vespa cà tàng đi khắp nơi. Anh đã giúp tôi chuẩn bị tốt cho kỳ thi vào Cao đẳng Mỹ Thuật Sài gòn dù về sau tôi không theo đuổi nghệ thuật hội họa... Kỷ niệm với anh Du Tử Lê tôi không bao giờ quên và chúng tôi thường nhắc lại mỗi khi ngồi uống café rồi cười với nhau
Đến Ai Cập và Jordan, chúng tôi tự sắp xếp chương trình thăm những nơi mình muốn. Qua Do Thái mấy ngày đầu tự lên lịch tham quan, sau đó nhập vào đoàn người đến từ Mỹ và Úc, trong chuyến hành hương do linh mục Dòng Tên Nguyễn Tầm Thường hướng dẫn.
Tướng Khuyên còn ở Sài Gòn đến ngày 28 tháng 4/1975 mới ra đi. Ông đã ra đi trong khi Sài Gòn đang cơn hấp hối vô phương cứu vãn nổi. Tới Mỹ, Ông xuất gia và tu hành lặng lẽ trong một ngôi chùa cũng lặng lẽ ít đồng hương lễ lạc. Kiếm sĩ Đặng Dung ngày xưa cũng sống như vậy
Truyện Thạch Sanh Lý Thông lưu truyền trong dân gian dưới hình thức chuyện kể truyền miệng chắc có đã lâu. Phải hiện hữu trước khi ông Dương Minh Đức đưa bản văn sáng tác của mình sang bên Quảng Đông khắc ván cũng như từng đưa vài chục tác phẩm khác của nhóm nhờ đó miền Nam Kỳ Lục tỉnh có được một số tác phẩm Nôm đáng kể mà người nghiên cứu Nôm thường gọi là Nôm Phật Trấn
Nhật Bản: Người Việt đứng đầu danh sách người ăn cắp đến từ nước ngoài. Năm 2017, khoảng 260 000 người Việt sống tại Nhật Bản, tăng 8 lần so với 2008. Tội phạm trong Cộng Đồng Việt cũng tăng. Thống kê tại Nhật cho thấy năm 2017, số tội phạm gốc Việt là 5140, chiếm hơn 30% tổng số tội phạm
đài phát thanh yêu cầu người dân phải về nhà trước 23 giờ để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ ngày 22.09.1975, đài loan tin về quy định đổi tiền và kéo dài thời gian giới nghiêm đến 11 giờ sáng. Thời gian đổi tiền sẽ bắt đầu vào lúc 11 cho đến 23 giờ cùng ngày, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ để hoàn thành việc thu và đổi tiền
người có danh, có chức mới viết hồi ký khi về già. Tôi chỉ là một nhà giáo bình thường, chẳng có gì to lớn cả, nên chẳng bao giờ nghĩ đến việc tự viết về mình. Tuy nhiên, qua bao năm sống còn, nghĩ lại mình cũng còn những điều đáng nhớ
Trong thời đại ngày càng gia tăng sự bất ổn và bất an trên khắp toàn cầu, lời Phật dạy về bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết nhau ngày phù hợp đối với tất cả những ai muốn thiết lập một thế giới tốt đẹp và hòa bình.
Nhắc đến biến cố 30 tháng 4 năm 1975 thì người Việt sống ở hải ngoại đều bùi ngùi thương cảm khi nhắc đến cái chết oai hùng của 5 vị tướng đã tự tử trong thời gian kể trên. Nay tôi xin góp nhặt tin tức được kể lại từ nhiều người thân cận tướng Nguyễn Khoa Nam về cuộc sống đời thường của ông
Hai bên cách nhau khoảng mười thước, thấy nhau bằng mắt thường, nên, mọi người trên đoàn giang đỉnh đều thấy Việt-Cộng nhốn nháo, tán loạn... địch từ bờ bắn ra dữ dội với đủ loại súng, có cả 82 ly không giật và 12 ly 8. Phía Lực-Lượng 99, vũ khí nặng trên chiến đỉnh đều xử dụng tối đa
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.