Hôm nay,  

Hy Vọng & Thực Tế Tan Hoang

04/04/201000:00:00(Xem: 3402)

Hy Vọng & Thực Tế Tan Hoang – Nguyễn Xuân Phong (Dịch giả Phan Quân)

LGT: Từ năm 1965 đến 1975, ông Nguyễn Xuân Phong đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ VNCH và biết nhiều bí mật dẫn đến việc mất Miền Nam. Trong thời gian hòa đàm Ba Lê về Việt Nam, từ địa vị thành viên phái đoàn lúc ban đầu, ông đã trở thành Trưởng Phái Đoàn vào giai đoạn cuối cùng, với chức vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách hòa đàm trong chính phủ. Đặc biệt, ông cũng là nhân vật quan trọng trong Hội Nghị Thượng Đỉnh của nguyên thủ 7 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương tại Manila vào 2 ngày 24 & 25 tháng 10, 1966, nhằm thẩm định về cuộc chiến ở Nam Việt Nam với sự tham dự của Tổng thống Phi Luật Tân, Ferdinand E. Marcos; Tổng thống Đại Hàn, Park Chung Hee; Tổng thống Hoa Kỳ, Lyndon B. Johnson; Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo VNCH, Nguyễn Văn Thiệu; Thủ tướng Úc Châu, Harold Holt; Thủ tướng Tân Tây Lan, Keith Holyoake; Thủ tướng Thái Lan, Thanom Kittikachorn; và Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương VNCH, Nguyễn Cao Kỳ. Tại Hội Nghị, ông là người Việt Nam duy nhất được trực tiếp nghe trưởng phái đoàn Nam Hàn cho biết: Tổng thống Nam Hàn đã cảnh giác, [qua kinh nghiệm cuộc chiến tranh Cao Ly] nếu như hòa đàm [với VC] có xảy ra, chính phủ Sài Gòn sẽ thấy Mỹ thương thuyết thẳng với phía bên kia [VC], còn Sài Gòn chẳng nói năng gì được trong khi thương thuyết, và cuối cùng sẽ phải chấp nhận và tuân hành những gì Mỹ và VC ký kết. Quả nhiên, 6 năm sau, lời tiên đoán này đã trở thành sự thật tại Hội Nghị Ba Lê, dẫn đến bản Hiệp Định đầy phi lý, khi Mỹ toa rập với VC cho phép quân đội xâm lăng VC được tiếp tục hiện diện trên lãnh thổ VNCH, dẫn đến thảm kịch 30-4-75. Trong những số trước, SGT đã giới thiệu một số chương trong tác phẩm  "Hope and Vanquished Reality", được ông viết theo yêu cầu của "The Center for A Science of Hope" ở New York. Nay do yêu cầu của đông đảo độc giả, chúng tôi xin giới thiệu tiếp một số chương quan trọng trong tác phẩm của ông.

(Tiếp theo...)

Học với Tập

Sau khi Sài Gòn tan hàng, thành phố được đặt dưới quyền cai quản của Ủy Ban Quân Quản, mà người chịu trách nhiệm là Thượng Tướng Trần Văn Trà, tư lệnh lực lượng vũ trang Mặt Trận Giải Phóng. Ông ra lệnh cho tất cả các công chức chế độ Sài Gòn trước kia, từ chánh sự vụ trở lên, và tất cả các sĩ quan quân đội, từ thiếu úy trở lên, phải trình diện học tập cải tạo trong ba mươi ngày, từ tháng Năm đến tháng Sáu 1975. Những nhân viên dân chính và quân đội khác của chính phủ Sài Gòn chỉ cần học tập bảy ngày tại trú quán sở tại.
Như thế, ít ra chúng tôi cũng biết được những gì dành cho chúng tôi. Thế nào cũng phải có trả thù và trừng phạt, trong chừng mực nào đó. Ba mươi ngày là một cái giá thấp phải trả, dù cho dưới tên gọi học tập cải tạo, hay uốn nắn trở lại, hoặc giam cầm hay thậm chí bỏ tù. Nhiều công chức hay sĩ quan cấp cao của Sài Gòn nghĩ rằng nếu phải chịu ba trăm ngày thì cũng được đi. Tôi sẵn sàng chịu đựng biện pháp khe khắt hơn, miễn là không phải tù chung thân hay xử tử. Tôi nghĩ từ năm đến mười năm tù cũng có thể chịu đựng được, nhưng biết đâu sẽ đến hai mươi năm. Tôi quan tâm nhiều nhất, không phải cho cá nhân tôi, nhưng cho sự an toàn và yên lành của cha mẹ và những người trong gia đình tôi.
Phần đông những công chức và sĩ quan của Sài Gòn trước kia đều có nhiều hy vọng và tinh thần vững chắc khi gần đến ngày học tập cải tạo. Cũng như tôi, nhiều người cảm thấy đỡ day dứt và đỡ lo sợ. Hàng nghìn người chúng tôi bắt đầu trình diện tại những địa điểm quy định, phần lớn là các trường tiểu học và trung học. Những đám đông ồn ào và nhộn nhịp, được hàng tá thân nhân đưa tiễn. Nhiều người đến trình diện, mang theo thức ăn và nước uống, chẳng khác nào một cuộc đi chơi biển hay đi hội chợ. Thậm chí còn có những trường hợp khôi hài nữa.
Tôi phải vất vả mới làm cho người ta chấp nhận đẳng cấp của tôi để được thu nhận vào học. Chức vụ chính thức của tôi là "quốc vụ khanh". Tội cho anh chàng phụ trách đăng ký, dò ngược, tra xuôi danh sách quy định những chức vụ phải nhập học mà chẳng thấy chức vụ của tôi đâu cả. Anh ta bối rối thấy rõ khi tôi xác nhận đúng là chức vụ của tôi phải đăng ký tại đó. Thế mà anh ta vẫn không chịu nhận.
Thiên hạ xếp hàng đàng sau tôi nóng lòng nhảy vào cuộc tranh luận. Họ bảo rằng:
- Ông Phong có đủ điều kiện để được đăng ký mà.
Anh chàng đáng tội kia bối rối nhìn quanh tìm cách xác nhận. Anh ta bực mình hỏi gặng:
- Chắc vậy, phải không"
Mọi người đều la to:
- Đúng rồi!
Vẫn còn hoài nghi, anh ta hỏi tôi:
- Thế thì anh lớn hơn chánh sự vụ, chớ gì. Nếu không đúng thì tôi sẽ bị rầy đó.
- Đúng rồi, tôi trên chánh sự vụ mà.
Cuối cùng, tôi được thu nhận và đưa đến một nhà ngủ nội trú nữ sinh gần sở thú Sài Gòn. Có thể nói là lúc bấy giờ tôi có hy vọng chút nào đó do chỗ những người chiến thắng còn rộng lượng để cho tôi trả một cái giá nhẹ như thế và tôi còn có thể chia sẻ với gia đình và đất nước một thân phận chung.
Ngày hôm sau, xe tải quân đội đến đưa nhóm người chúng tôi tại trường nữ cô nhi viện Long Thành, cách xa Sài Gòn khoảng ba mươi cây số. Có nhiều chỗ nhốt người tương tự trên khắp Nam Việt Nam, giam giữ trên hai trăm nghìn viên chức dân sự và sĩ quan quân đội trước kia. Cô nhi viện nằm trên một thửa đất rộng lớn, bằng phẳng, không cây cối, với khoảng một tá nhà gạch thô sơ, lợp nhôm, nền gạch. Tôi nghĩ số người bị giam ở đó cũng vào khoảng trên ba nghìn. Đàn ông, đàn bà nhốt riêng, nhưng ban ngày chúng tôi được tự do sinh hoạt lẫn lộn bên trong vòng rào. Sinh hoạt tự nó đi vào nề nếp một cách nhanh chóng. Mỗi ngày được cung cấp hai bữa ăn, nhưng cũng có quày hàng cho những ai muốn mua thực phẩm, thức uống phụ thêm và các vật dụng thường dùng khác.
Tôi bị nhốt trong một căn nhà rộng lớn và trống trơn cùng với một nhóm khoảng hai trăm người. Tôi nhận ra một ít bộ trưởng trước kia, trong số đó có một ông bạn thuở nhỏ, đã làm Bộ Trưởng Công Chánh, cùng với Bộ Trưởng Tài Chính, quen biết với tôi trước kia thời còn đi học bên Pháp, Bộ Trưởng Xã Hội, Bộ Trưởng Giáo Dục, Thứ Trưởng Văn Hóa và Thứ Trưởng Thông Tin. Những người còn lại đều là công chức cấp thấp của chính phủ Sài Gòn.


Chúng tôi ngủ trên sàn gạch. Tôi tìm ra được một góc yên tĩnh cho gói hành trang nhỏ của tôi và cho cá nhân tôi. Tôi phát hiện ra những người nằm cạnh tôi là các ông Thứ Trưởng Thương Mại và Thông Tin, một dân biểu quốc hội và một quan tòa già nua của tối cao pháp viện. Lần đầu tiên tôi quen biết những người này. Trong số ba nghìn người bị giam cầm, tôi có thể nhận diện ra không tới hai mươi người đã gặp trước kia, dù cho mọi người có vẻ biết tôi là ai và ai cũng tử tế với tôi. Có một bầu không khí sinh động, vui vẻ, chẳng buồn rầu bao nhiêu. Người nào cũng bận rộn từ sáng tới khuya, thăm hỏi lẫn nhau, tụ tập thành nhóm nhỏ, tán gẫu không ngớt. Tôi không thích nói nhiều và thường ngồi riêng ở một góc. Thiên hạ biết tôi muốn được yên tĩnh nên giữ ý không quấy rầy tôi, ngoại trừ chào hỏi hay nhoẻn miệng cười với tôi khi đi ngang.
Ban đầu, cuộc sống không có vấn đề gì và chẳng bao lâu gia đình biết được nơi giam giữ chúng tôi. Thân nhân bắt đầu kéo đến trước cổng trại tìm cách gặp mặt và liên lạc với những người bị giam giữ, mà không được, nhưng cũng đưa được thức ăn, nước uống, quần áo và tiền bạc vào trại. Không có một thân nhân nào đến thăm tôi, vì trước khi đi trình diện học tập, tôi đã yêu cầu gia đình đừng đi thăm, mà chỉ chờ tôi trở về thôi. Thế nhưng, tôi cũng nhận được vài lá thơ và ít tiền, và nhắn được về nhà, báo đã nhận được tiền và cho biết là tôi vẫn bình yên để cho cha mẹ tôi yên lòng.
Trại đầy ấp những người nằm trong diện học tập cải tạo. Ngoài công chức và quân đội ra, còn có nhiều thường dân, cũng như những tư nhân thuộc những chính đảng. Có hôm, một đảng viên thuộc loại đó gián tiếp làm náo động lên. Một biến cố ồn ào xảy ra bên khu nữ. Tôi không được chứng kiến cảnh náo động, nhưng nghe nói rất nhiều về chuyện đó. Tin loan truyền khắp trại là có một người phụ nữ chừng hai mươi tuổi khóc la và lăn lộn dưới đất, cầu Trời, khấn Phật gia hộ độ trì cho cô được về nhà. Thì ra, đó là một cô gái nghèo, gần như dốt đặc làm công cho một bà giàu có, ủy viên ban chấp hành của một chính đảng tí hon nào đó của Sài Gòn, vì háo danh và vì những lý do tào lao khác, bà đã ngoan ngoãn trình diện học tập cải tạo với chức vụ khá kêu trong đảng. Vì sợ không được ăn ngon, mặc đẹp nên người nữ chính khách kia đem cô người làm theo để giặt giũ và nấu nướng cho bà. Chẳng may là bà chủ đã đăng ký cô người làm với tư cách là "bí thư" nên cô bị đưa đi học tập cải tạo. Nhưng bà không khai rõ là thư ký riêng của bà cho nên cô ta bị cho đi học tập cải tạo với tính cách là "bí thư", một từ để chỉ chức vụ quan trọng trong chính đảng. Sau mấy ngày bị giam giữ, bà chủ đã chạy chọt thế nào để được tự do, nhưng bà lại quên đem cô làm công ra theo. Bà chủ cấp tốc rời trại, không thèm có một lời nào với cô làm công, nên cô điên tiết lên, vì bà chủ đã ra về mà quên cô.
Ngoài việc quýnh quáng lên vì điên tiết, cô gái thương tâm kia không biết phải xử sự ra sao khi không có quần áo để giặt và chẳng phải nấu nướng gì hết. Mọi người đều tìm cách xoa dịu và an ủi cô, nói rằng rồi đây bà chủ sẽ tìm cách cho cô được tự do. Trong lúc chờ đợi, cô gái cũng vơi được buồn phiền vì được biên chế vào tổ "chị nuôi" để làm phụ bếp nấu ăn cho tù. Cô nàng thấy vui sướng vì có công việc làm, vì thấy mình hữu dụng mà không cần phải có một bà chủ. Sau đó, tôi không có tin tức gì của người con gái đáng thương đó.
Đến thời điểm mà chúng tôi đã được người ta gây ảo tưởng là hết ba mươi ngày học tập cải tạo, chúng tôi lại mơ hồ biết rằng ngày ra về chưa đến, như Thượng Tướng Trần Văn Trà, Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Hồ Chí Minh, đã quyết định trước kia. Có tin đồn rằng viên chức cao cấp ngoài Hà Nội đã vào để tổ chức và nắm lấy quyền cai trị ở miền nam Việt Nam. Không ai giải thích hoặc cho biết lý do tại sao không cho chúng tôi về nhà, như mong đợi. Cũng như phần đông bạn bè bị giam cầm, hy vọng của tôi đã hoàn toàn tiêu tan. Chúng tôi lại bước vào giai đoạn mới là không biết phận mình sẽ ra sao. Cũng một nỗi bấp bênh, như chúng tôi đã trải qua, ngay sau khi Sài Gòn lọt vào tay cộng quân, nhưng lần này chúng tôi bị nhốt trong trại tập trung chứ không phải ở nhà cùng với gia đình và được đi đây đi đó trong thành phố.
Qua trao đổi với những người cảnh vệ, chịu nói chuyện với chúng tôi, chúng tôi được biết rằng chúng tôi sai quấy vì đã đánh phá và gây tội ác chống lại Tổ Quốc. Người ta không gọi chúng tôi là những người "phản bội Tổ Quốc", nhưng họ cũng úp mở cho chúng tôi hiểu rõ là đã tiếp tay với "bọn tân đế quốc Mỹ xâm lược", đem lại chết chóc và hủy diệt cho nhân dân và đất nước Việt Nam. Chúng tôi không được biết có bị đưa ra tòa hay không, hay là có bị xét xử trên căn bản nào hay không. Cũng không ai nói hình phạt dành cho chúng tôi là thế nào và bao lâu và không ai cho biết thời hạn giam giữ sẽ được phán quyết như thế nào, cho từng cá nhân hay một cách tập thể.
Vì vậy cho nên tôi càng thêm quan tâm đến hy vọng, nhưng hy vọng bằng cách cân nhắc giữa ảo tưởng và sự vỡ mộng. Tôi có nhiều lý do chính đáng để hy vọng nhưng thực tế lại không cho phép tôi hy vọng. Rõ ràng là tôi đã có hy vọng vì tôi đã tin tưởng ở lời nói của Thượng Tướng Trần Văn Trà về ba mươi ngày học tập cải tạo. Chẳng may cho chúng tôi là giới chức cao cấp hơn đã quyết định lại, trái với ý định của Tướng Trà, như tôi được biết sau này. Sau đó, ông cũng biệt tích giang hồ.
"Du học" miền Bắc
Chúng tôi ở khám Thủ Đức tương đối chẳng bao lâu, chỉ một vài tuần. Một buổi sáng, người ta tập hợp chúng tôi ngoài sân trại, mỗi cặp hai người bị còng tay với nhau bằng giây xích sắt và được xe tải quân đội đến đưa ra sân bay. Áy náy, lo âu, nhưng chẳng thấy có dấu hiệu gì cho biết sẽ đi đâu, chúng tôi bị đưa lên một chiếc C-130 rồi máy bay cất cánh. Không ai nói gì với chúng tôi hết. Như thói thường, những người cảnh vệ rất đứng đắn, gần như thân thiện. Sau khi cất cánh, nhiều người đoán rằng có lẽ người ta đưa chúng tôi ra nhà lao nổi tiếng ở Côn Đảo, nơi giam tù trước kia, dưới thời Pháp ở Nam Việt Nam. Nhưng sau khi bay được hơn nửa tiếng mà chưa đáp thì chúng tôi biết rằng đang bay ra miền Bắc.
Sau khi đáp xuống sân bay Gia Lâm gần Hà Nội, chúng tôi thấy phi hành đoàn, vốn là những phi công của Không Quân Sài Gòn trước kia, nhập bọn với chúng tôi trên những chiếc xe tải chạy quanh co qua các con đường trong thành phố để rồi chạy suốt những con đường cái quan, đưa chúng tôi đến trại cải tạo. Dọc theo đường, một số trẻ con la ó chửi bới và ném đá vào chúng tôi. Những người cảnh vệ có vẻ bực mình, và các hành động đó của trẻ con làm cho những người đồng hành với tôi phiền hà và lo âu, nhưng tôi không thấy bực mình gì hết. Ai có thể quở trách những cô cậu chưa đầy mười tuổi đó được" Qua một thời gian lâu gấp đôi tuổi tác của những đứa bé đó, người ta đã tạo dựng nên hình ảnh của bọn Mỹ đế quốc mới, của những tên tử thù ác ôn chống lại tổ quốc Việt Nam mến yêu của họ. (Còn tiếp...)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cụ bà Ruth Kundsin ở Quincy chứng minh rằng người ta không bao giờ quá già. Dù đã 103, bà vẫn tập thể dục có thể khiến những người trẻ tuổi nhìn cũng cảm thấy… mệt!
Hiện nay, thành phố Lawrance- Kansas đang nhộn nhịp phát triển. Thành phố có Đại Học Kansas này đã lọt vào top 20 trong bảng xếp hạng Bloomberg Brain Concentration Index.
Sáu mươi ba phần trăm người Mỹ nói rằng họ ủng hộ tự do của người khác để thực hành tôn giáo tại nơi làm việc hoặc ở nơi khác trong cuộc sống "ngay cả khi điều đó tạo ra sự áp đặt hoặc bất tiện cho người khác"
Cựu nhân viên của Fox News, Shepard Smith cho biết ông đang quyên góp 500,000 đô la cho Ủy Ban Bảo Vệ Các Nhà báo, theo báo New York Times cho biết.
Theo quy định mới, kể từ ngày 1/1/2020, các hãng hàng không không được thuê máy bay đã xử dụng quá 10 năm, tính từ ngày xuất xưởng đến thời điểm nhập vào Việt Nam
Westminster (Bình Sa) Tại văn phòng tòa soạn Việt Báo vào Thứ Ba ngày 19 tháng 11 năm 2019, phái đoàn Ủy Ban Góp Ý với Ủy Ban Xây Dựng Đài Tưởng Niêm Hoàng Sa gồm có các cựu Sĩ Quan Hải Quân Nguyễn Mạnh Chí, HQ. Lê Bá Chư và HQ. Đặng Thành Long đã đến thăm tòa soạn Việt Báo, sau đó trình bày một vấn đề khá quan trọng để nhờ tòa soạn loan tin.
SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG:
Trộm kỹ thuật của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh quốc, Pháp quốc… Lấn chiếm Biển Đông của VN, Philippines… Bây giờ TQ cũng chôm cả văn hóa VN, nói rằng áo dài VN là truyền thống thời trang Trung Hoa…
Mùa lễ đến gần, cũng là mùa mà nhiều người sẽ lên cân, và mất đến cả vài tháng sau để xuống trở lại. Đối với nhiều người Mỹ, “mùa lên cân” bắt đầu từ tháng 10, và đạt đến đỉnh điểm là Mùa Giáng Sinh. Thủ phạm không đâu xa, là đủ loại kẹo từ Halloween, đến gà tây Thanks Giving, tiếp nối đến chocolate Christmas.
Theo một nghiên cứu mới, việc bỏ thuốc sẽ gẫn đến một sự thay đổi lớn về hệ vi khuẩn trong ruột. Tuy nhiên, việc thay đổi này có tác dụng như thế nào thì cần phải có nghiên cứu thêm.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.