Hôm nay,  

Pháp Luật Phổ Thông

07/08/200500:00:00(Xem: 7776)
[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang vừa được xuất bản. Qúy độc giả có thể mua sách qua internet bằng cách lên Website Google (google.com) đánh máy chữ “ho ledinh”, rồi theo sự hướng dẫn của các websites.]

Hỏi (Ông Trần Trọng Quốc): Con tôi năm nay học lớp 10. Cách đây chừng 5 tuần lễ, cháu đi chơi với bạn, đến khoảng xế chiều thì có xe cảnh sát ngừng ở trước nhà và một cánh sát vào hỏi cháu. Chúng tôi trả lời là cháu đi chơi với bạn từ sáng sớm. Cảnh sát bèn để danh thiếp lại và yêu cầu chúng tôi báo cho cháu biết là khi cháu về nhà nhớ gọi điện thoại cho cảnh sát.
Mãi tới 3 giờ chiều hôm sau cháu mới về đến nhà. Tôi hỏi thì cháu cho biết là hôm qua đi chơi với bạn, vì người bạn đã lấy đồng hồ của một người học cùng trường, sau đó đòi học sinh đó phải đưa $20 mới trả lại đồng hồ. Học sinh đó bèn yêu cầu cháu cùng người bạn đứng chờ để vào máy rút tiền. Tuy nhiên học sinh đó đã đi gọi điện thoại báo cho cảnh sát, vì thế người bạn cùng cháu phải bỏ đi chỗ khác.
Cảnh sát không tìm được cháu và người bạn, nên đã đến nhà. Tuy nhiên, sau đó cảnh sát đã tìm gặp được cháu và người bạn tại McDonald và đã yêu cầu 2 cháu lên xe chở về đồn.
Sau khi chất vấn cháu và người bạn đã bị cáo buộc về tộâi đe dọa tống tiền.
Theo lời kể thì cháu vô can trong vụ này, vì cháu không hề đe dọa mọi chuyện là do người bạn của cháu thực hiện.
Xin LS cho biết liệu cháu có bị kết buộc tội vừa nêu hay không" Năm nay cháu mới 15 tuổi và chưa bao giờ gặp rắc rối về pháp luật và tòa án.

*

Trả lời: Điều 99 Đạo Luật Hình Sự 1900 quy định rằng: “Bất cứ ai, dùng lời lẽ đe dọa, hoặc dùng vũ lực, để đòi tiền bạc từ bất cứ người nào, với ý định tước đoạt số tiền đó, sẽ bị tù khổ sai 10 năm.” (Whosoever, with menaces, or by force, demands any money from any person, with intent to steal the same, shall be liable to penal servitude for ten years).
Trong vụ Director of Public Prosecutions v. Kuo [1999] NSWSC 1201. Trong vụ đó, nạn nhân được 16 tuổi vào lúc sự việc xảy ra. Diễn tiến của nội vụ có thể tóm lược như sau:
Vào lúc 10.30 sáng ngày 2.2.1999, trong lúc chờ xe tại trạm xe buýt, nạn nhân thấy “bị cáo,” là một người quen lúc còn học tiểu học, cùng đi với một thiếu niên khác.
Khi xe buýt đến, nạn nhân bèn lên xe và lui ngồi tận hàng ghế sau của xe. Bị cáo và thiếu niên đã cùng lên chiếc xe buýt đó. Họ đã ngồi ngay hàng ghế phía trước mặt nạn nhân. Bị cáo và nạn nhân đã chào nhau.
Không có hành khách nào ngồi gần chỗ nạn nhân, ngoại trừ bị cáo và thiếu niêu cùng đi. Một vài hành khách khác thì ngồi tận ở những hàng ghế trước.
Thiếu niên cùng đi với bị cáo đã lưu ý cái mobile phone (điện thoại di động) mà nạn nhân đang cầm trong tay, và đã yêu cầu nạn nhân đưa cho xem. Nạn nhân đã đồng ý và trao chiếc điện thoại di động cho thiếu niên đó.
Thiếu niên bèn hỏi giá của chiếc điện thoại rồi nói: “Thôi bây giờ mày không phải lo về cái điện thoại này nữa, nó là của tao rồi.” (Well you don’t have to worry about it now, it’s mine.”
Thiếu niên bèn bỏ chiếc điện thoại vào túi. Nạn nhân yêu cầu bị cáo trả lại điện thoại và cho biết là cần phải có điện thoại để làm việc. Tuy nhiên lời yêu cầu của nạn nhân đã bị từ chối. Nạn nhân nài nỉ và nói rằng là sẽ làm bất cứ điều gì để được trả điện thoại lại vì cần phải có điện thoại để làm việc.


Thiếu niên bèn hỏi nạn nhân là có bao nhiêu tiền trong túi. Nạn nhân cho biết là có $15. Thiếu niên bèn cho nạn nhân biết là muốn lấy điện thoại lại thì phải trả nhiều hơn số tiền đang có trong túi, rồi hỏi nạn nhân là có thêm tiền hay không. Nạn nhân cho biết là có $50 trong ngân hàng. Thiếu niên bèn ra lệnh cho nạn nhân đi theo đương sự đến máy rút tiền tại ngân hàng để rút tiền. Thiếu niên ra lệnh cho nạn nhân rút $50 và nói rằng nếu có nhiều hơn trong trương mục thì nên rút ra và đưa luôn vì đương sự rất muốn luôn số tiền đó. Thiếu niên bèn lấy $50 nhưng vẫn không chịu trả lại điện thoại, đợi cho nạn nhân năn nỉ nhiều lần cuối cùng mới trả lại. Bị cáo ngồi kế bên nhưng nhìn vào hướng khác, tảng lờ làm như không hay biết đến sự việc đang xảy ra.
Sau đó, thiếu niên và bị cáo bị bắt và bị cáo buộc tội đe dọa tống tiền. Tuy nhiên tòa sơ thẩm bác bỏ “bản ghi các sự kiện để truy tố” (information) được đệ trình bởi công tố viện, và tha cho bị cáo vì cho rằng tội đe dọa tống tiền đòi hỏi phải có sự đe dọa gây ra thiệt hại. Tòa cho rằng thiệt hại do sự đe dọa phải là sự thiệt hại về thể chất cho nạn nhân hoặc cho những người thân của nạn nhân. Vì không có sự đe dọa đe dọa trực tiếp hoặc gián tiếp nên tòa bèn tha bổng bị cáo. Công tố viện bèn kháng án.
Vào lúc xét xử, luật sư của Công Tố Viện đã trưng dẫn các quyết định trước đây của tòa tại Anh Quốc cũng như tại Úc.
Trong vụ R v Tomlinson [1895] 1 QB 706. Trong vụ đó, “bị cáo đã viết thư đòi 10 xu và đe dọa người nhận thư rằng nếu không nhận được thì bị cáo sẽ vạch trần hành vi cho rằng là đồi bại về tình dục của người nhận” (accused had written a letter demanding ten shillings and threatening the recipient that if it was not received he would expose the recipient’s alleged sexual misconduct).
Vấn đề được đặt ra là liệu việc gửi thư có phải là bằng chứng của việc đòi tiền với sự hăm dọa hay không" Luật sư của bị cáo tranh cãi rằng “từ ‘đe dọa’ cần phải có sự đe dọa về sự thiệt hại đối với cá nhân hoặc tài sản của người bị đe dọa” (the word ‘menaces’ necesaarily imported a threat of injury to the personor the property of the person threatened).
Tuy nhiên, Tòa đã cho rằng sự đe dọa bao gồm lời đe dọa về sự nguy hiểm do bởi việc tố cáo hành vi cho rằng là đồi bại.
Trong vụ R v. Boyle and Merchant [1914] 3 KB 339. Trong vụ đó, bị cáo đe dọa là cho công bố trên báo chí làm thiệt hại đến giá cổ phiếu của công ty trên thị trường. Tòa đã bác bỏ lời tranh biện cho rằng từ “đe dọa”bị giới hạn đối với sự đe dọa bạo hành thuộc về thể chất hoặc sự đe dọa gây thiệt hại đối với nhân cách.
Tòa cho rằng khi một người với ý định ăn cắp, đe dọa bạo hành đối với một người khác, hoặc thực hiện những hành vi được tính toán để gây phương hại cho tài sản hoặc nhân cách của một người khác, thì sự đe dọa đó là sự đe dọa theo sự quy định của đạo luật.
Trong vụ R v. Clear [1968] 1 QB 670. Trong vụ đó, bị cáo đã bị kết tội vì đã đe dọa là sẽ đưa ra bằng chứng làm phương hại đến vụ kiện của nguyên đơn. Bị cáo bèn kháng án, nhưng đơn kháng án của bị cáo đã bị bác bỏ.
Cuối cùng tòa đã chấp nhận sự kháng án của công tố viện và đã gửi trả lại vụ kiện cho tòa sơ thẩm để được xét xử lại.
Dựa vào luật pháp cũng như các phán quyết vừa trưng dẫn, ông có thể thấy được rằng việc cháu và bạn cháu đã dính dáng đến việc bắt nạt để lấy đồng hồ của một học sinh rồi sau đó buộc phải trả tiền mới hoàn trả lại đồng hồ là một hành vi phạm vào tội trạng quy định theo điều 99 của Đạo Luật Hình sự 1900 như đã nêu trên.
Nếu cháu thực sự không liên hệ đến vụ việc thì chắc chắn tòa sẽ được tòa tha bổng. Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào sự nhận tội của bạn cháu cũng như lời khai của bạn cháu và nạn nhân. Nếu ông còn thắc mắc xin điện thoại cho chúng tôi để được giải đáp thêm.

những người ra đời sau 1975 là đa số. Cũng dễ hiểu là trong cuộc sống hàng ngày, đa số này không lưu tâm tới một chuyện đã xảy ra trước khi có mặt họ trên cõi đời này, cho dù những gì đang xảy ra luôn luôn có liên quan nhiều ít đến những gì đã xảy ra trong dĩ vãng. Vậy họ lưu tâm đến những gì?
Tôi gác nhà Bank cho đến ngày về hưu năm ngoái (2018) là hơn 19 năm. Chỉ gác duy nhất Bank of America thôi, có mang súng! Một đoạn đường khá dài và cũng lắm kỷ niệm vui buồn
Dạ, xe do Ba của con thuê để đón tụi con từ phi trường đang dừng chờ đèn đỏ, bỗng nhiên công an, cảnh sát giao thông ra dấu cho xe của tụi con tấp vào bờ. Tụi con – và cả hơn mười chiếc xe khác – chờ hơn nửa tiếng đồng hồ mà chẳng ai cho biết là tài xế phạm lỗi gì! Bây giờ anh Tân đang cãi nhau với công an, cảnh sát
TS Vũ Thu Hương, Trưởng khoa Giáo dục Đại học Sư phạm Hà Nội nêu kết quả điều tra của Tổ chức Nhân đạo Quốc tế, đưa ra kết quả cho thấy số trẻ em bị xâm hại (sờ mó, sàm sỡ) ở Hà Nội chiếm 78.1%, tính ra “Cứ 10 trẻ ở Hà Nội thì có 8 em bị xâm hại tình dục”.
Ba mươi tháng Tư con còn đỏ hỏn... Quà của mẹ: tặng con đời Giải Phóng! Hai mươi năm sau, con trăng tròn tuổi ngọc Từ giã mẹ hiền sang xứ "lạ" làm dâu Quà cưới con, những sáu nghìn đô! Có ít đâu!
Đại đội 17 - khóa 25 SVSQ trừ bị Thủ Đức của chúng tôi vào tháng 11/1967, là nhân chứng tận mắt ngày xây Nghĩa trang quân đội Biên Hòa và 8 năm sau, tức ngày 30/4/1975 số người sống sót sau cuộc chiến của toán dàn chào nầy, cùng toàn dân miền Nam chứng kiến sự kết thúc của Nghĩa trang đó.
Kính trọng và ưu ái thắp ngọn bạch lạp buổi tối cho ngày 30 tháng tư năm 1975 để tưởng nhớ, để cảm ơn những anh hùng tử sĩ hy sinh cho cuộc chiến Quốc Cộng sau vĩ tuyến 17 và cho nửa triệu thuyền nhân Việt chết trên biển tìm tự do.
Đêm nay ở phương trời xa xăm cũ biết trời có mưa không? Đêm nay trong vòng rào tù ngục có bao nhiêu kẻ (chợt) thức giấc giữa đêm trường nằm mong chờ khắc khoải trong đói lạnh một tiếng súng mơ hồ? Và đêm qua – ở nơi đây – ai có bạc đầu không?
Nhân Ngày ANZAC Day 25/4/2019 Do Ca Nhạc Sĩ Bích Ngọc & Thái Nguyên - Hội Duy Trì & Phát Triển Văn Hóa / Culture Preservation & Development Club - “Cp&Dc” Tổ Chức
Ông Đào Tăng Đĩnh, sinh năm 1923, vào thời kỳ Việt Nam bị Pháp đô hộ. Ông lớn lên trong thời kỳ các đảng phái và phe nhóm quốc gia lẫn cộng sản đứng lên khởi nghĩa chống Pháp
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.