Hôm nay,  

Chiêu Quân

21/02/200700:00:00(Xem: 7580)

Không thấy một gạch nối nào giữa hình ảnh người đẹp Chiêu Quân của Hán-quốc phải gạt lệ sang Hồ, với thời điểm giao mùa năm mới tiễn năm cũ. Vậy mà tôi cứ bâng khuâng, phảng phất đâu đây tiếng nức nở của giai nhân:

“Tuyết lạnh che mờ trời Hán-quốc

Tỳ-bà lanh lảnh buốt cung thương

Tang tình năm ngón, sầu dâng lệ

Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ sang” (*)

Có lẽ không gì ảo não cho bằng khi phải xa rời quê hương bất đắc dĩ. Huống chi, một vương phi được quân vương sùng ái mà chỉ vì quá đẹp nên đã phải biến thành quà tặng cho kẻ thắng trận. Có ai phải xa quê, trên đường biên giới, nhìn về đất mẹ mới cảm thông phần nào nỗi lòng Chiêu Quân:

“Đây Nhạn-Môn-Quan đường ải vắng

Trường Thành xa lắm, Hán Vương ơi!

Chiêu Quân che khép mền chiên bạch

Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi 

Ngó lại xanh xanh triều Hán-Đế

Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung

Quân Vương chắc cũng say và khóc

Ái Khanh! Ái Khanh! Lời nghẹn ngùng” (*)

Lòng người đi sầu muộn như thế. Còn kẻ ở thì sao" Chia lìa nào mà không đứt đoạn:

“Hồ xang, hồ xang, xừ hồ xang

Chiêu Quân nàng ơi, lệ dâng hàng

Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống

Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang” (*)

Người yêu thơ biết đến Quang Dũng ở những bài bất tử như Đôi mắt Người Sơn Tây, Đôi Bờ, Tây Tiến … nhưng bài Chiêu Quân, tương đối ít người thuộc hơn. Tôi cũng ở trong số này. Nhưng đêm nay, trong chuyển tiếp lặng thầm của trời đất, lòng tôi bỗng quặn lên hình ảnh một người phải gạt lệ xa quê. Biết bao người đã tức tưởi xa quê, sao phút giây này tôi lại chỉ mơ hồ thấy bóng dáng Chiêu Quân, một nhân vật, đối với tôi vẫn chỉ là huyền thoại"

Người thi sỹ như con tằm, khi nhả tơ là nhả chính nỗi lòng mình. Quang Dũng gửi gấm gì qua tiếng khóc Chiêu Quân, tôi không rõ, nhưng tiếng khóc đó đang chiêu cảm lòng người xa quê giữa giờ phút giao mùa, là tôi.

Quê nội tôi, làng Phương Viên, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông mà tôi tình cờ biết đó cũng chính là nơi Quang Dũng chào đời. Thi sỹ sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, nghĩa là cùng huyện, chỉ khác làng thôi, mà làng quê Việt Nam thì nhỏ bé, nhiều khi chỉ cách nhau một lạch sông, một bờ đê hay dăm bụi tre ngăn con đường đất đỏ. Phương Viên và Phượng Trì là hai, trong số tám làng nhỏ mà địa danh được gọi chung là Tổng Phùng.

Khi khám phá ra điều này tôi mới thấp thoáng nhớ về những ngày thơ ấu. Mỗi mùa hè nghỉ học, được về quê chơi, tôi thường đong đưa nằm trên chiếc võng mắc ở nhà ngang, nhìn qua khung cửa thấy rặng núi xanh rì. Ngờ đâu, đó chính là rặng núi Ba Vì đã gợi niềm xúc cảm để Quang Dũng viết nên bài thơ nổi tiếng Đôi Mắt Người Sơn Tây, mở đầu với những câu:

“Em ở thành Sơn chạy giặc về

Tôi từ chinh chiến cũng ra đi

Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì” (+)

Bài thơ này được cố nhạc sỹ tài danh Phạm Đình Chương phổ nhạc và tự hát. Thơ và nhạc đã cất cánh bay suốt ba miền đất nước từ nhiều thập niên qua. Dù người biết nhạc hay không, khi thưởng lãm Phạm Đình Chương chậm rãi nâng ly rượu sóng sánh, nhấp một ngụm, rồi với tay, lấy cây đàn tây ban cầm, dạo nhẹ dăm cung bậc và hào sảng cất tiếng:

“Đôi mắt người Sơn Tây

U uẩn chiều luân lạc

Buồn viễn xứ khôn khuây” (+)

Thì tâm hồn người nghe không thể nào không xao xuyến, huống chi, quê  người nghe lại ở ngay miền đất thơ mộng đó!

Viết tới đây tôi mới mơ hồ thấy cái gạch nối giữa tấm lòng Chiêu Quân và thời khắc giao mùa.

Thì ra, chẳng phải Chiêu Quân khiến tôi bâng khuâng, mà là tác giả bài thơ Chiêu Quân, người gửi gấm tâm sự qua nỗi lòng kẻ sang Hồ. Tác giả bài thơ - người biết rõ quê nội tôi như chính tôi - là người đang khơi dậy hồn quê chan chứa trong tôi. Hồn đất linh thiêng nơi bờ đê, đường làng, cầu ao, bụi cỏ, thẳm sâu đâu đó, dấu chân người, chân tôi, thế nào chẳng có lúc gần kề. Thế nên chiều nay, tiếng nấc Chiêu Quân không chỉ là tiếng gọi hồn Quang Dũng mà còn đưa tôi về quê cũ, nơi ông bà, cha mẹ đã nằm xuống. Quang Dũng gọi, hay chính tôi đang gọi mình:

“Em ơi! Em ơi! Đêm dần vơi,

Vọng về phương ấy ngóng trông người

Trăng có soi qua đầu tóc bạc

Nẻo chừng cố quận, nhớ thương ơi!” (#)

Vâng, nhớ quá và thương quá, quê ơi! Tôi vẫn biết ngày nay, bờ đê đó, đường làng xưa đã đổi khác nhưng hồn quê, hồn đất, ngàn năm thấm xương máu Cha, Ông, đã thành linh địa trong anh, trong tôi thì không gì đổi thay được:

“Khói thuốc xanh dòng, khơi lối xưa

Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ

Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mưa” (=)

Kim đồng hồ vừa nhích khỏi con số 12.

Bính Tuất đã qua.

Đinh Hợi vừa tới.

Tôi thắp ba nén nhang, bước ra sân, vọng về quê hương.

Cắm nhang bên gốc ngọc-lan, tôi ngước nhìn trời đêm, nhớ về Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, nhớ về bao người đã vun bồi Quê Hương, đã đến rồi đi như giòng sông, chỉ cho mà không chờ nhận.

Trong bóng đêm, tôi lặng lẽ sụp lạy đủ chuỗi hạt 108. Mỗi hạt là một  lạy.

Nền đất lạnh buốt gối quỳ không làm tôi run rẩy lời thành khẩn cầu xin an lạc tới khắp nơi khổ hạnh.

Diệu Trân

(Giao thừa Tết Đinh Hợi)

Thơ Quang Dũng:

(*) Chiêu Quân

(+) Đôi mắt người Sơn Tây

(#) Cố quận

(=) Đôi bờ

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi gác nhà Bank cho đến ngày về hưu năm ngoái (2018) là hơn 19 năm. Chỉ gác duy nhất Bank of America thôi, có mang súng! Một đoạn đường khá dài và cũng lắm kỷ niệm vui buồn
Dạ, xe do Ba của con thuê để đón tụi con từ phi trường đang dừng chờ đèn đỏ, bỗng nhiên công an, cảnh sát giao thông ra dấu cho xe của tụi con tấp vào bờ. Tụi con – và cả hơn mười chiếc xe khác – chờ hơn nửa tiếng đồng hồ mà chẳng ai cho biết là tài xế phạm lỗi gì! Bây giờ anh Tân đang cãi nhau với công an, cảnh sát
TS Vũ Thu Hương, Trưởng khoa Giáo dục Đại học Sư phạm Hà Nội nêu kết quả điều tra của Tổ chức Nhân đạo Quốc tế, đưa ra kết quả cho thấy số trẻ em bị xâm hại (sờ mó, sàm sỡ) ở Hà Nội chiếm 78.1%, tính ra “Cứ 10 trẻ ở Hà Nội thì có 8 em bị xâm hại tình dục”.
Ba mươi tháng Tư con còn đỏ hỏn... Quà của mẹ: tặng con đời Giải Phóng! Hai mươi năm sau, con trăng tròn tuổi ngọc Từ giã mẹ hiền sang xứ "lạ" làm dâu Quà cưới con, những sáu nghìn đô! Có ít đâu!
Đại đội 17 - khóa 25 SVSQ trừ bị Thủ Đức của chúng tôi vào tháng 11/1967, là nhân chứng tận mắt ngày xây Nghĩa trang quân đội Biên Hòa và 8 năm sau, tức ngày 30/4/1975 số người sống sót sau cuộc chiến của toán dàn chào nầy, cùng toàn dân miền Nam chứng kiến sự kết thúc của Nghĩa trang đó.
Kính trọng và ưu ái thắp ngọn bạch lạp buổi tối cho ngày 30 tháng tư năm 1975 để tưởng nhớ, để cảm ơn những anh hùng tử sĩ hy sinh cho cuộc chiến Quốc Cộng sau vĩ tuyến 17 và cho nửa triệu thuyền nhân Việt chết trên biển tìm tự do.
Đêm nay ở phương trời xa xăm cũ biết trời có mưa không? Đêm nay trong vòng rào tù ngục có bao nhiêu kẻ (chợt) thức giấc giữa đêm trường nằm mong chờ khắc khoải trong đói lạnh một tiếng súng mơ hồ? Và đêm qua – ở nơi đây – ai có bạc đầu không?
Nhân Ngày ANZAC Day 25/4/2019 Do Ca Nhạc Sĩ Bích Ngọc & Thái Nguyên - Hội Duy Trì & Phát Triển Văn Hóa / Culture Preservation & Development Club - “Cp&Dc” Tổ Chức
Ông Đào Tăng Đĩnh, sinh năm 1923, vào thời kỳ Việt Nam bị Pháp đô hộ. Ông lớn lên trong thời kỳ các đảng phái và phe nhóm quốc gia lẫn cộng sản đứng lên khởi nghĩa chống Pháp
Tôi chỉ kinh ngạc khi nghĩ tới má chạy vào vùng bom đạn để cứu đứa con gái mới hai tháng. Đây là câu chuyện đầu tiên về đời mình tôi được biết – câu chuyện của một đứa bé kẹt ở khúc quanh lịch sử; câu chuyện về tình thương vô điều kiện của người mẹ dành cho đứa con; và câu chuyện trong giờ phút đất nước đổi chủ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.