Hôm nay,  

Luật Pháp Phổ Thông

28/11/200500:00:00(Xem: 6942)
[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang vừa được xuất bản. Qúy độc giả có thể mua sách qua internet bằng cách lên Website Google (google.com) đánh máy chữ “ho ledinh”, rồi theo sự hướng dẫn của các websites.]

Hỏi (Bà Bùi Thanh Thủy): Tôi lập gia đình vào năm 1989. Hiện chúng tôi có với nhau hai bé gái 10 tuổi và 7 tuổi. Vào đầu năm 2004, sau khi đồng ý tự nguyện nghĩ việc, chồng tôi đã lãnh được một số tiền gần $200,000. Ông đã dùng số tiền này để trả hết nợ căn nhà, số còn lại ông quyết định cùng hùn hạp với người bạn và về Việt Nam tìm các nguồn hàng thích hợp để nhập cảng.

Tuy nhiên, sau khi trở lại Úc vào tháng 8 năm 2004, tính tình của chồng tôi hoàn toàn thay đổi, ông ta không còn chăm sóc và lo lắng cho gia đình như trước đó.

Ông ta thường liên lạc về Việt Nam bằng cách mua những tấm thẻ gọi điện thoại mà không còn dùng điện thoại nhà như trước đây nữa. Tôi có hỏi ông về lý do thì được giải thích rằng ông không muốn phải trả tiền Bill một lúc quá nhiều.

Vào tháng 12 năm 2004, tôi tình cờ đọc được một lá thư gửi từ Việt Nam cho chồng tôi qua địa chỉ hộp thư của Bưu Điện. Sau khi đọc xong lá thư đó, tôi hoàn toàn thất vọng vì biết được rằng chồng tôi đã dối gạt mẹ con tôi từ trước tới nay.

Tuy nhiên, tôi đã cố gắng bình tỉnh và yêu cầu ông ta cho biết rõ sự việc. Thay vì giải thích về sự việc, ông ta đã lớn tiếng cãi vả và có những thái độ trấn áp tôi. Sau khi cãi vả, ông ta đã tự động mang những đồ đạc cá nhân của ông ta và cho tôi biết rằng ông ta sẽ đến tá túc tại nhà của một người bạn và yêu cầu tôi từ nay đừng tìm gặp ông ta nữa.

Với các chứng cớ vừa nêu, tôi biết được rằng tình cảm trong con người của ông ta đã hoàn toàn thay đổi.

Xin LS cho biết là tôi có thể nộp đơn xin ly dị với ông ta ngay được không" Từ ngày ông ta rời Úc để đi làm việc tại Việt Nam tính đến nay đã được hơn 12 tháng.

Trả lời: Điều 48(1) của Đạo Luật Gia Đình 1975 quy định rằng đơn xin ly dị phải được căn cứ vào lý do là “hôn nhân đã đổ vỡ không thể nào hàn gắn được” (the marriage has broken down irretrievably).

Điều 48(2) quy định rằng án lệnh về “việc giải trừ hôn nhân” (dissolution of marriage) sẽ được đưa ra, nếu, và chỉ nếu khi nào tòa đã thỏa mãn được rằng “các bên đương sự đã ly thân và sau đó đã sống tách biệt và riêng lẻ” (the parties separated and thereafter lived sepately and apart” trong một thời gian liên tục ít nhất là 12 tháng ngay trước khi nộp đơn xin ly dị.

Tòa sẽ không cho ly dị nếu thấy rằng có sự trở lại chung sống giữa hai vợ chồng [Điều 48(3)].

Điều 51(1) Đạo Luật Gia Đình quy định rằng khi vợ chồng đã ly thân một thời gian, nhưng sau đó vì lý do này hay lý do khác họ đã quyết định “trở lại sống chung với nhau” (the resumption of cohabitation), tuy nhiên sau khi chung sống lại với nhau chưa được 3 tháng, họ lại ly thân cho đến ngày nôp đơn ly dị , thì “thời gian sống ly thân và riêng biệt trước và sau khi trở lại sống chung đó có thể được tính gộp lại như là thời gian sống ly thân liên tục và riêng biệt” (the periods of living separately and apart before and after the cohabitation may be aggregated as if they were a continuous period of living separately and apart).

Vấn đề được đặt ra ở đây là khi nào bà và chồng bà được xem là đã thực sự ly thân.

Trong vụ hôn nhân của Tye (In the Marriage of Tye). Trong vụ đó, hai vợ chồng đã kết hôn tại Melbourne vào ngày 17 tháng 3 năm 1973, người chồng sinh tại Nam Kinh, Trung Hoa vào năm 1948 hồi đó được 25 tuổi, và người vợ sinh tại Victoria vào năm 1953 và lúc đó chưa tròn 20.

Vào ngày 1-1-1975, người chồng đã rời Úc và đi làm việc tại Tân Gia Ba (Singapore), người vợ vẫn tiếp tục ở lại Melbourne, rồi từ đó hai vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. An lệnh đã được đưa ra vào tháng 2-1976 liên hệ đến vấn đề tài sản và ly dị của hai vợ chồng.

Khi người cồng rời Úc để đi Singapore, người chồng đã báo cho vợ biết rằng sau khi ổn định ông ta sẽ đón bà ta đến để chung sống. Tại Melbourne, người vợ đã bán tất cả các đồ đạc còn lại của gia đình gồm bàn, tủ, giường, ghế vì nghĩ rằng bà ta sẽ đi Singapore để chung sống với chồng sau đó.

Nhưng vào cuối tháng 2 bà ta đã nhận được một lá thư do chồng đương sự gửi về và báo cho bà ta biết rằng ông ta sẽ không trở lại để chung sống với bà nữa.

Bằng chứng cho thấy rằng cho đến lúc người vợ nhận được thư của người chồng, bà ta vẫn tin tưởng rằng không có một sự rạn nứt nào trong hôn nhân và trong cuộc sống lứa đôi của họ cả. Tuy nhiên, vào cuối tháng 2 năm 1975, cả hai bên đương sự đều nhận thức được rằng hôn nhân của họ đã tan vỡ, và rằng không có một viễn ảnh nào cho sự hòa giải hầu trở lại sống chung nữa.

Theo chứng cớ được trưng dẫn thì hai bên đương sự đã thự sự ly thân từ tháng 1 năm 1975. “Đơn xin ly dị [đơn xin giải trừ hôn nhân]” (the application for dissolution of the marriage) đã được đệ nộp vào ngày 29 tháng 1 năm 1976.

Điều này có nghĩa là đơn xin ly dị đã được nộp hơn 12 tháng sau khi hai người thực sự ly thân [được tính vào lúc người chồng rời Úc để đi Singapore], nhưng chưa được 12 tháng nếu tính từ lúc người vợ biết được rằng hôn nhân của bà ta đã tan vỡ.

Mặc dầu việc nộp đơn ly dị trong vụ đó đã không theo đúng thời gian luật định [là phải ly thân ít nhất 12 tháng], nhưng tòa đã xét rằng sau khi đến Singapore chừng một tuần lễ, người chồng đã có ý định là sẽ không đưa vợ mình đến đó để cùng sống chung nữa, vì thế, tòa cho rằng thời gian ly thân đã hội đủ nên đã chấp thuận cho hai vợ chồng ly dị.

Dựa vào luật pháp cũng như phán quyết vừa trưng dẫn bà có thể thấy được rằng ngoại trừ bà có thể trưng dẫn được bằng chứng để chứng minh rằng khi rời nước Úc để đi phục vụ tại Việt Nam, chồng bà đã có ý định sẽ không trở lại chung sống với bà nữa, hoặc bà biết được rằng đời sống hôn phối của vợ chồng bà đã thực sự tan vỡ từ ngày đó. Tuy nhiên, theo những gì bà kể lại trong thư, nếu không có bằng chứng để chứng minh ngược lại, thì thời gian ly thân của bà thực sự khởi đầu vào tháng 12 năm 2004. Vì thế, để có thể nộp đơn xin ly dị, bà phải đợi đến tháng 12 năm 2005, khi thời gian ly thân đã hội đủ 12 tháng theo luật định.

Theo những gì bà kể trong thư thì sau khi trở lại Úc, chồng của bà đã cùng bà sống chung một nhà, tuy nhiên, nếu bà và chồng bà không còn xem nhau như vợ chồng thì thời gian cùng sống chung cùng nhà vẫn được tính là thời gian ly thân.

Trong trường hợp bà và chồng của bà cùng sống chung một nhà và không còn quan hệ với nhau như vợ chồng, thì tòa đòi hỏi bà phải đính kèm “tờ khai hữu thệ” (affidavit) khi nộp “đơn xin ly dị” (application for divorce). Tờ khai hữu thệ này phải được làm bởi bạn bè hoặc người thân của bà, mà người đó biết được rằng mặc dầu bà cùng chồng của bà sống chung một nhà, nhưng quan hệ vợ chồng đã chấm dứt từ lâu [12 tháng hoặc hơn 12 tháng].

Nếu bà còn thắc mắc xin điện thoại cho chúng tôi để được giải đáp thêm.


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
HANOI -- Việt Nam dự kiến sẽ nghiên cứu làm đường sắt nối Hải Phòng - Trung Quốc... theo bản tin từ Sputnik và VietnamNet. Nhưng than ôi, công ty làm dự án lại là của Trung Quốc...
Tọa lạc ngay trung tâm Sài Gòn và cũng là biểu tượng của thành phố này, lâu nay chợ Bến Thành luôn có giá cho thuê sạp cao ngất ngưởng. Đặc biệt, dù giá cao nhưng vẫn luôn đắt hàng, các sạp cho thuê vẫn kín chỗ, theo Thanh Niên (TNO).
Lâu nay, nước yến chiếm một thị phần lớn trong các loại nước giải khát, được bày bán khắp từ các siêu thị, cửa hiệu tạp hóa, cho đến nhà hàng, quán nước. Đáng nói, thực chất thành phần chủ yếu của đa số các loại nước yến này đều là nước đường và hóa chất yến chỉ chiếm tỉ lệ 1 phần ngàn đến một phần triệu, tức gần như không đáng kể. Thế nhưng các nhà sản xuất vẫn ngang nhiên quảng cáo và ghi trên bao bì là “nước yến”, có khác gì lừa gạt người tiêu dùng, theo Tieudung.vn.
Garden Grove (VB)- - Chùa Phước Quang (Phước Quang Buddhist Temple) tọa lạc tại số 12471 Euclid Street, Thành phố Garden Grove, CA 92840, điện thoại số (714) 360-3938, (714) 213-5692, do quý Sư Cô Thích Nữ Như Quang và Thích Nữ Như Minh trụ trì sẽ tổ chức Khóa Tu Học, Lễ Tiểu Tường Ni Trưởng Như Thủy vào các ngày 6-7 tháng 4 năm 2019,
Vậy là tròn 145 năm ký kết Hiệp ước Giáp Tuất -- một bản văn ký năm 1874 và là bản hiệp định thứ hai giữa triều Nguyễn và Pháp, cắt nhiều tỉnh Nam Bộ cho quân Pháp.
Các bạn thân mến, Tuần này, chị Tường Chinh lại tiếp tục bài của chị, mời các bạn cùng đọc: Các em thân mến,
Em đi học tiếng Việt được hai năm, bắt đầu từ lớp một, vì em đã được bà ngoại dạy tiếng việt ở nhà và nói được nhưn (nhưng) không biết viếc (viết), biết đọc.
Hết tháng ba, mùa Xuân đến Em biết Vì trong vườn, cành khô Đã sống lại với những chồi nụ Xanh mơn mởn Và những con chim Quen thuộc Đã trở về đậu trên cành Hót rất vui
Tóm tắt: Ngày xưa có một hoàng tử bị mụ phù thủy nhốt vào trong chiếc hộp sắt đem bỏ giữa rừng. Một ngày nọ có vị công chúa đi lạc, nhìn thấy chiếc hộp, nghe tiếng nói từ trong hộp phát ra. Nàng hứa sẽ lấy người trong hộp để được chỉ dẫn về nhà. Nhưng vua cha lại tráo hai thiếu nữ khác đi thay để giải cứu người trong hộp. Cả hai đều bị phát giác là giả nên cuối cùng công chúa phải đi, nếu không hoàng cung sẽ sụp đổ. Khi phá được hộp, nhìn thấy hoàng tử, công chúa bằng lòng kết hôn, nhưng xin hoàng tử cho trở về thăm gia đình. Hoàng tử dặn về nhà chỉ nói ba câu rồi trở lại ngay, nhưng công chúa quên lời dặn, và thời gian sau khi trở lại thì hoàng tử và chiếc hộp biến mất, Công chúa nguyện đi kiếm tìm chàng dù chân trời góc biển và nàng gặp mẹ con rùa giúp đỡ qua được núi thủy tinh, đến hoàng cung gặp chàng. Nhưng hoàng tử lúc đó đang chuẩn bị cưới vợ. Công chúa xin làm người hầu và lấy một trong ba hạt dẽ ra ăn, nhưng bên trong là một bộ áo cưới rất đẹp, công chúa bèn ngã giá với người
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.