Hôm nay,  

Tạm Kết

24/02/201100:00:00(Xem: 16390)

Đi hành hương Ấn Độ hay Nepal quả nhiên có nhiều khó khăn hơn đi thăm viếng nhiều nước trên thế giới vì phương tiện giao thông hay đời sống còn nghèo, nhưng sao tôi vẫn muốn trở lại những quốc gia này. Nhất là tôi mong có dịp được đi thăm Katmandu, kinh đô xứ Nepal. Được biết Phật giáo lần đầu tiên được vua A dục (Asoka) từ Ấn Độ đưa vào thung lũng Katmandu khoảng năm 250 trước dương lịch. Sau đó có nhiều người Tây Tạng di cư sang lập nghiệp tại đây, nhất là sau biến cố người Tây Tạng bị mất nước trong tay Trung cộng.

Một nơi khác mà tôi ao ước có duyên đi thăm viếng là Dharamsala, thủ phủ của chánh phủ lưu vong Tây Tạng do đức Ðạt lai Lạt ma lãnh đạo. Dharamsala thuộc quận Kanga, thuộc tiểu bang Himachal Pradesh, Ấn Độ.

Đức Ðạt lai Lạt ma hiện tại là vị Ðạt lai Lạt ma thứ 14 của Tây Tạng, tên gọi là Tenzin Gyatso. Cậu bé lên hai Lhamo Drondup ở làng Takster thuộc tỉnh Amdo miền đông bắc Tây Tạng được xem là hóa thân của đức Ðạt lai Lạt ma thứ 13, được đưa về Lhasa thọ giới tân tu năm 1935, đặt tên là Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso; ngự tại Ðiện Potala vĩ đại, trong thủ đô Lhasa; và du nhập vào một cuộc đời tu học nghiêm túc.

Năm 1949, cộng sản Trung Quốc bắt đầu xâm lược Tây Tạng. Năm 1950, vị Ðạt lai Lạt ma mười lăm tuổi được đưa lên làm lãnh tụ đạo và đời cho xứ Tây Tạng, hai năm sớm hơn thông lệ. Bốn năm sau, ngài thọ trọn tăng giới trước linh tượng của Phật Quán Thế Âm (Avalokitesvara), người Tây Tạng gọi là Chenrezig.

Năm 1959, đức Ðạt lai Lạt ma phải bỏ xứ lưu vong sang Ấn Độ, thiết lập thủ đô tị nạn Dharamsala cho người Tây Tạng. Hiện nay, Dharamsala đã trở thành một thủ đô Phật giáo nổi tiếng, với hàng trăm ngàn tu sinh học trong các tự viện lớn nhất, và vẫn duy trì được truyền thống Phật giáo Tây Tạng tinh khôi suốt hơn ngàn năm.

Đức Ðạt lai Lạt ma ngày nay được thế giới kính quý ngưỡng mộ, vì quá trình hoằng hóa và tranh đấu cho dân chủ tự do của Ngài trong suốt năm mươi năm. Ngài được trao tặng giải Nobel Hòa bình năm 1989, và tiếp tục tranh đấu không ngừng cho Tây Tạng đang sa vào ách thống trị của cộng sản Trung Quốc.

Những tu viện mà chúng tôi được thăm viếng thuộc phái Mũ vàng của Ngài. Được nhìn thấy tận nơi đời sống và sự chuyên cần tu học nghiêm túc của quý sư và các tăng sinh, tôi rất cảm phục. Tôi được chứng kiến một buổi thực tập tranh biện (debate) Phật pháp trong khuôn viên tu viện Gaden Sartse của tăng sinh vào ban đêm khi mọi người đã an giấc. Mỗi một câu hỏi của tăng sinh đều được nhanh nhẹn trả lời sau một tiếng vỗ tay cho thấy sự chăm chỉ tu học, rèn luyện tuy các ngài còn rất trẻ.

Chúng tôi cũng khó quên những hình ảnh sinh hoạt của người dân Tây Tạng trong các khu tái định cư vẫn còn nghèo khó mặc dù đã sống lưu vong đến 51 năm. Chúng tôi thấy cảm thông sâu xa với nỗi niềm xa quê hương và sống nơi xứ lạ quê người của họ. Cái cảm giác thật mạnh mình là họ và họ chính là mình.

Tuy nhiên, nếu nhìn dưới một góc cạnh khác thuần tôn giáo, và có phần lạc quan, thì biến cố lịch sử bi thương tại Tây Tạng, cũng như tại Việt Nam và các nước Á Đông, kể cả Nhật bản và Hàn quốc, phải chăng đã góp phần trong sự phát triển ngày nay của Phật giáo trên thế giới, nhất là tại Tây phương.

Theo số liệu thống kê của Adherents(vào năm 2005) thì số người theo đạo Phật trên toàn thế giới là 376 triệu, chiếm khoảng 6% dân số thế giới.

Cũng theo thống kê Adherents, 10 nước có đông người theo Phật giáo nhất là:


Trung Quốc 102.000.000 người
Nhật bản 89.650.000 người
Thái lan 55.480.000 người
Việt Nam 49.690.000 người
Myanmar 41.610.000 người
Sri Lanka12.540.000 người
Hàn quốc10.920.000 người
Đài loan9.150.000 người
Campuchia9.130.000 người
Ấn Độ7.000.000 người

Đạo Phật ở các nước Tây phương:

Hoa kỳ: Theo World Almanac năm 2004có khoảng 2-3 triệu người theo đạo Phật. Đạo Phật đứng hàng thứ 5 ở đây. Tỉ lệ tăng số người theo đạo từ 1990đến 2000là 170%.

Theo Australian Bureau of Statisticscủa Úcthì số người theo đạo Phật có tỉ lệ tăng nhanh nhất nước này từ 1996đến 2001(hơn 150%). Năm 2002có đến hơn 360.000 người theo Phật giáo.

Theo Pluralism Projectthì trong năm 1997ở Phápcó khoảng 650.000 và ở Anhcó 180.000 tín đồ Phật giáo.

Những con số này tuy hơi cũ và không thật sự chính xác nhưng phản ánh được phần nào sự gia tăng mạnh mẽ của con số Phật tử ngày nay trên thế giới. Do bởi đặc tính khiêm cung và trầm lặng của người học Phật, con số thống kê trên thực tế có thể cao hơn nhiều. Chẳng hạn, tại Việt Nam, với hơn 80 triệu dân số, được ước tính có tỷ lệ 90% theo Phật giáo, thì số Phật tử phải cao hơn con số khoảng 50 triệu được đưa ra ở trên. Cho dù dưới chế độ xem như “vô thần” nhưng trên thực tế người Việt càng va chạm nghịch cảnh càng tăng trưởng niềm tin vào đấng thiêng liêng. Tại hải ngoại, số Phật tử người Việt rất đông. Với con số nhiều triệu người Việt Nam lưu vong tản mác trên thế giới, với khoảng 3 triệu tại Hoa kỳ, có hơn phân nửa là Phật tử. Do đó, con số 2-3 triệu Phật tử tổng cộng tại Hoa kỳ ghi trên ắt hẳn nhiều thiết sót, vì ngoài cộng đồng Việt hải ngoại, các cộng đồng người gốc Á khác (Hoa, Nhật, Hàn, Thái, vân vân…) đa số theo Phật giáo. Đó là chưa kể con số Phật tử người Tây phương.

Dù vậy, chỉ cần dựa phần nào vào các con số thống kê trên, cũng đủ thấy sự phát triển của Phật đạo trên thế giới, đặc biệt là tại Tây phương. Diễn đạt một cách khác, do các biến cố lịch sử khốc liệt từ sự triển khai triệt để của vật chất hóa, Phật giáo nói chung, và đặc biệt là Phật giáo Tây Tạng, từ một tôn giáo ẩn kín trên đỉnh núi cao, trong quá khứ được xem như là thần bí, ngày nay đặt chân trên khắp thế giới, cung ứng những lời dạy siêu diệu của đấng Toàn Giác đến cùng các bậc thức giả của các quốc gia có nền văn minh (kỹ thuật) hàng đầu, đem đến niềm an lạc và hạnh phúc mới như cứu cánh giải thoát khỏi sự nô lệ của kỷ nguyên vật chất.

Xin cầu nguyện Ơn Trên, Mười Phương Chư Phật phò hộ cho người dân Tây Tạng được sớm trở lại quê hương của họ. Cũng xin nguyện cầu cho chính đất nước nhỏ bé Việt Nam của chúng ta được trường tồn và tinh thần dân tộc vươn lên mạnh mẽ để bảo vệ quê hương tránh họa mất nước như Tây Tạng. Nhất là người dân Việt Nam được hưởng hạnh phúc ấm no dân chủ công bằng để có thể ngẩng mặt lên cùng các nước bạn trên thế giới.

Thái Tử Siddhata Gautama quyến tâm đi tìm một phương án giúp cho nhân lồi thốt khỏi khổ đau, Ơng báo cho hiền thê Yasodhara biết Ơng phải đi tìm một chân lý. Yasodhara cảm nhận quyết tâm của Ơng thế là vào một đêm khuya tỉnh mịch ,Ơng rời Vương Cung Thích Ca, bước qua cổng thành đơng mơn đi vào núi Linh Thửu tu khổ hạnh.
Tơi đến phố cổ Hội An vào một ngày khơng nắng. Trời tối thui lúc sáng, lúc còn mây làm cho cái tài chụp hình của tơi khơng mấy sáng sủa. Bất chợt đi ngang qua gian hàng bán lồng đèn, những chiếc lồng đèn màu sắc rực rỡ treo lủng lẳng lọt vào mắt tơi...
Tù nhân Bá là một Trung Úy CSQG/VNCH, tuổi trẻ, đẹp trai, đầy phong độ,vang bóng một thời trước năm 1975, tùng sự trong toán tuần cảnh hỗn hợp xe lưu động nha CSQG Đô Thành Saigon phối hơp với Quân cảnh Mỹ tuần tiễu khắp đô Saigon nhằm mục đích kiểm soát và chấn chỉnh những Cảnh sát, và quân nhân Mỹ nào ăn mặc bê bối không đúng quân phong quân kỷ
Thường thường mỗi khi ngày Lễ Vu Lan hay Mother’s Day tràn về, Mùa Nhớ Thương Mẹ, sắp đến, là mỗi lần làm cho con buồn bã, nghĩ vơ nghĩ vẩn, lo sợ viển vông, bởi những ám ảnh ưu phiền, ngày con mất Mẹ trong quá khứ, nó vẫn còn lẩn tha lẩn thẩn đâu đây, để đày đọa tâm tư con lịm chết.
Anh hàng xóm Trung Quốc luôn luôn là nỗi lo lớn cho dân tộc Việt Nam… Không rõ các quan chức Hà Nội có chung một cảm xúc như thế không.
Tác giả hiện là cư dân Arkansas, đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2017. Bà tên thật Trịnh Thị Đông, sinh năm 1951, nguyên quán Bình Dương. Nghề nghiệp: Giáo viên anh ngữ cấp 2. Với bút hiệu Dong Trinh, bà dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 7, 2016, và luôn cho thấy sức viết mạnh mẽ và cách viết đơn giản mà chân thành, xúc động. Sau đây, là bài mới viết về đứa con phải rời mẹ từ lúc sơ sinh năm 1975, hơn 40 năm sau khi đã thành người Mỹ ở New York vẫn khắc khoải về người mẹ bất hạnh.
Trần Đại Quang không chấp nhận ra đi dễ dàng như ông Đinh Thế Huynh. Sự cố gắng trở về từ nơi chữa bệnh và góp mặt, góp tiếng của ông Quang tại Hội Nghị 7 đã phát ra một làn sóng năng lực đáng kể và trở thành lớp keo liên kết các phe phái không theo ông Trọng.
Để Bày Tỏ Sự Ủng Hộ Dự Luật SB 895, Thiết Lập Chương Trình Giảng Dạy Toàn Tiểu Bang Về Chiến Tranh Việt Nam Cộng Hòa, Thời Hậu Chiến, Và Những Đau Thương Mất Mát Trên Đường Đi Tìm Tự Do
kỷ niệm Ngày Nhân Quyền cho VN, tại Văn Phòng Thượng Viện HK , BTC gồm có CT Đinh Hùng Cường, CT CĐ HTĐ, MD&VA, BS Nguyễn Quốc Quân, Ông Võ Thành Nhân, Đài SBTN - DC. Do TNS Jonh Cornnyn, TX và một số Dân biểu bảo trợ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.