Hôm nay,  

Người Mã Lai

12/04/201400:00:00(Xem: 5986)
Chúng tôi rời bến vào lúc 10 giờ đêm ngày 31 tháng 5 năm 1979. Ba chiếc tàu cùng rời một lúc. Chiếc của chúng tôi nhỏ nhất, bề ngang 3.5m, dài 17.5m, chở tổng cộng 328 người. Ba chiếc tàu theo sông Cửa Tiểu là một trong chín cửa của sông Cửu Long chạy ra biển Thái Bình. Đêm hôm khuya khoắt, hai bên bờ sông tối đen như mực. Tiếng máy tàu chạy đều đều. Mọi người quá mệt mỏi, ngủ say.

3 giờ sáng, chúng tôi đã ra tới cửa biển. Nghe sóng vổ lách tách bên mạn tàu, tôi giật mình thức giấc và đoán rằng mình đã bắt đầu ra đại dương, bỏ lại sau lưng chế độ cộng sản, công an, những rình rập, soi mói, những hồi hộp lo âu.

Đến 8 giờ sáng chúng tôi hoàn toàn mất hút bến bờ Việt Nam. Ba chiếc tàu chạy hầu như song song, cùng rẽ sóng về phía nam. Ngày thứ hai trên Thái Bình Dương, chúng tôi thấy thấp thoáng đảo Côn Sơn. Đêm thứ hai, khoảng 9 hay 10 giờ đêm, chúng tôi gặp một chiến hạm Mỹ. Tàu họ cũng tối đen vì họ không bật đèn và cũng xin ghi chú nơi đây là chúng tôi chưa cách bờ Việt Nam xa lắm, nói một cách khác, chúng tôi chưa ở vào hải phận quốc tế. Họ không cho chúng tôi lại gần. Họ phái một chiếc ca-nô đệm hơi với khoảng 4, 5 người lính đến cặp tàu chúng tôi và nói chuyện với ngưới đại diện của tàu là anh Chí. Rõ ràng là lính Mỹ vì họ trang bị bằng M16. Sau đó, họ cho anh Chí lên ca-nô và đưa về chiến hạm để gặp cấp chỉ huy của họ.

Câu chuyện vượt biên nào cũng thật dài. Tôi xin mạn phép tạm ngừng kể phần nầy và xin kể đến phần chúng tôi vào đến bờ Mã Lai sau 8 ngày lênh đênh trên Thái Bình Dương và bốn lần gặp hải tặc Thái.

Chiều ngày 7 thâng 6 năm 1979, chúng tôi đã đến gần bờ biển Mã Lai. Ban tổ chức tầu chúng tôi quyết định cho đục tàu vì như thế lính Mã Lai không thể xua chúng tôi ra biển cả. Chiếc tàu bắt đầu vô nước và chúng tôi chuyển những người già, đàn bà, trẻ em vào bờ dần dần. Khi cách bờ chừng 10 thước, tôi đã thấy nhiều lính Mã Lai đứng dàn hàng ngang trên bờ như đợi chúng tôi lên. Họ để chúng tôi leo lên bờ. Kế đến họ hỏi ai là chủ tàu, ai là tài công. Khi hai người nầy đến trình diện họ, các tên lính Mã Lai dùng báng súng đánh hai người nầy rất dã man. Mọi người rất lo lắng đến run sợ vì sau 8 ngày trên biển, chúng tôi hết sức mệt mỏi, muốn được nằm ngay trên bãi biển nầy ngủ cho một giấc. Chúng tôi không biết số phận của mình sẽ ra sao.


Đến gần chiều tối, có nhiều xe chở quân, kiểu xe GMC của mình, đến đưa chúng tôi về một trại tạm cư mà sau nầy tôi biết đó là quận Kota Baru, thuộc tỉnh Kelantang, cách biên giới Thái Lan 10 cây số về hướng Bắc.

Ngày 20 tháng 6, 1979, Ban Giám Đốc trại, tạm gọi như vậy, cho lập danh sách tất cả người vượt biển trong trại lúc ấy có khoảng trên dưới 1.000 người. Tiếp theo, chúng tôi được chích ngừa mà tôi không nhớ họ chích ngừa bịnh gì. Mọi người vui cười hớn hở vì có tin chúng tôi sẽ được đưa đi Bidong là đảo tị nạn quốc tế. Chúng tôi đều biết rằng đến Bidong chúng tôi mới có hy vọng nộp đơn xin định cư ở Mỹ, Úc, Canada…

Ngày 23 tháng 6, 1979, tất cả boat people Việt Nam, già trẻ, lớn bé… đều được đưa lên những chiếc tàu vượt biển của người tị nạn, lần lượt các chiếc tàu chiến Mã Lai dùng dây thừng kéo tàu chúng tôi ra biển. Số phận tang thương đang chờ sẵn mà chúng tôi không biết. Sau ba ngày hai đêm được kéo, chiều ngày 25 tháng 6,1979, giữa đại dương mênh mông không thấy bến bờ, chỉ có trời và nước, ông thuyền trưởng đứng trên bơong tàu, nói với chúng tôi, tay chỉ về hướng xa xa, các anh có thấy bờ kia không, hãy cho tàu chạy về hướng đó. Nói xong, một tên thủy thủ chặt dây thừng và chiến hạm Mã Lai bỏ chúng tôi chạy đi. Tôi nhìn sợi dây thừng từ từ rớt xuống mặt biển kêu đánh “bạch” một tiếng mà như đứt ruột. Tàu chiến Mã Lai đã kéo tất cả người Việt tị nạn ra biển để cho họ lênh đênh và chết dần. Có tin họ kéo trung bình mỗi tuần 10,000 người bỏ ra biển, lý do: thứ nhất, để làm chùn chân những người Việt tị nạn cứ ùn ùn đổ vào Mã Lai khiến họ gánh một gánh nặng; thứ hai, để làm áp lực với các quốc gia đã chấp nhận lấy người tị nạn nhưng còn chậm chạp thủ tục.

Và đó là người Mã Lai.

(Bài nầy có tính cách thuật lại một sự việc. Phần phê phán là quyền của độc giả.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
hội Asian Business Association of Orange County đã tổ chức buổi lễ tôn vinh tính phong phú của văn hoá đa dạng. Đồng thời, những người đã có công làm phong phú văn hoá Mỹ-Á
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1906-1963) có 4 quyết định quan trọng cho đời ông nhưng đồng thời cũng là bốn quyết định có ảnh hưởng mạnh lên đời sống của dân tộc Việt Nam. Đó là: Sáng tác hai tác phẩm đầu tay Nho Phong và Người Quay Tơ khi chưa đầy 20 tuổi năm 1926
Vào năm 1994, trước tình hình đàn áp nhân quyền trầm trọng của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN), nhiều tổ chức và cá nhân tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền trong và ngoài nước đã vận động thành công Quốc Hội và Chính Phủ Hoa Kỳ thông qua quyết nghị chung S.J.Res.168 ấn định ngày 11 tháng 5 (May 11) hàng năm là “Ngày Nhân Quyền Việt Nam”
Sự thành công trong cuộc vận động và định cư khẩn cấp nhà hoạt động môi trường Bạch Hồng Quyền cùng gia đình của ông được đến bến bờ tự do của tổ chức VOICE và VOICE Canada vào ngày 3 tháng 5, 2019 vừa qua, đã là một câu trả lời mạnh mẽ cho những kẻ chuyên loan tin bịa đặt
Thơ NĐT không có giọng kêu réo kể lể hay chia sẻ với ai cả, chỉ là những lời thở than thì thầm với chính mình, những tiếng nói không mạch lạc, những mảng âm thanh rời rạc chán chường thờ ơ: Thịt da hay là đá, Ta hỏi rồi ta nghe...
Xin được viết bài này để trước tiên cảm ơn Mẹ Nấm về lời phát biểu của bà trươc cộng đồng người Việt ở Nam California về việc xin thông cảm cho bà vì còn dùng những danh từ của cộng sản vì mới qua chưa thể nào nhanh chóng sửa đổi được những ngôn từ bên đó.
Thạch Sanh Lý Thông thoạt đầu là truyện được truyền miệng trong dân gian từ khi dân Việt còn quần cư ở châu thổ sông Hồng. Truyện Thạch Sanh thuộc loại truyện cổ tích thần kỳ
không ai có thể phủ nhận thành tựu trong Giáo dục là một trong những thành công quan trọng nhất và rõ rệt nhất, đồng thời cũng là một nét vàng son đáng trân quý trong nếp sống và sinh hoạt ở Miền Nam thời trước năm 1975.
Sự kiện người dân Việt Nam vượt biển tìm tự do, sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, được coi như là một cuộc di dân lớn làm rúng động lương tâm nhân loại đồng thời cũng là một bi kịch
Sau vài lần cạn ly đầy (rồi đầy ly cạn) thì nhà văn Nguyễn Mộng Giác (bỗng) biến thành một… nhà thơ. Ông cao giọng đọc thơ Phùng Quán: Thơ ai như thơ ông/ Mỗi chữ đều như róc/ Từ xương thịt cuộc đời
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.