Hôm nay,  

Người Mã Lai

12/04/201400:00:00(Xem: 6353)
Chúng tôi rời bến vào lúc 10 giờ đêm ngày 31 tháng 5 năm 1979. Ba chiếc tàu cùng rời một lúc. Chiếc của chúng tôi nhỏ nhất, bề ngang 3.5m, dài 17.5m, chở tổng cộng 328 người. Ba chiếc tàu theo sông Cửa Tiểu là một trong chín cửa của sông Cửu Long chạy ra biển Thái Bình. Đêm hôm khuya khoắt, hai bên bờ sông tối đen như mực. Tiếng máy tàu chạy đều đều. Mọi người quá mệt mỏi, ngủ say.

3 giờ sáng, chúng tôi đã ra tới cửa biển. Nghe sóng vổ lách tách bên mạn tàu, tôi giật mình thức giấc và đoán rằng mình đã bắt đầu ra đại dương, bỏ lại sau lưng chế độ cộng sản, công an, những rình rập, soi mói, những hồi hộp lo âu.

Đến 8 giờ sáng chúng tôi hoàn toàn mất hút bến bờ Việt Nam. Ba chiếc tàu chạy hầu như song song, cùng rẽ sóng về phía nam. Ngày thứ hai trên Thái Bình Dương, chúng tôi thấy thấp thoáng đảo Côn Sơn. Đêm thứ hai, khoảng 9 hay 10 giờ đêm, chúng tôi gặp một chiến hạm Mỹ. Tàu họ cũng tối đen vì họ không bật đèn và cũng xin ghi chú nơi đây là chúng tôi chưa cách bờ Việt Nam xa lắm, nói một cách khác, chúng tôi chưa ở vào hải phận quốc tế. Họ không cho chúng tôi lại gần. Họ phái một chiếc ca-nô đệm hơi với khoảng 4, 5 người lính đến cặp tàu chúng tôi và nói chuyện với ngưới đại diện của tàu là anh Chí. Rõ ràng là lính Mỹ vì họ trang bị bằng M16. Sau đó, họ cho anh Chí lên ca-nô và đưa về chiến hạm để gặp cấp chỉ huy của họ.

Câu chuyện vượt biên nào cũng thật dài. Tôi xin mạn phép tạm ngừng kể phần nầy và xin kể đến phần chúng tôi vào đến bờ Mã Lai sau 8 ngày lênh đênh trên Thái Bình Dương và bốn lần gặp hải tặc Thái.

Chiều ngày 7 thâng 6 năm 1979, chúng tôi đã đến gần bờ biển Mã Lai. Ban tổ chức tầu chúng tôi quyết định cho đục tàu vì như thế lính Mã Lai không thể xua chúng tôi ra biển cả. Chiếc tàu bắt đầu vô nước và chúng tôi chuyển những người già, đàn bà, trẻ em vào bờ dần dần. Khi cách bờ chừng 10 thước, tôi đã thấy nhiều lính Mã Lai đứng dàn hàng ngang trên bờ như đợi chúng tôi lên. Họ để chúng tôi leo lên bờ. Kế đến họ hỏi ai là chủ tàu, ai là tài công. Khi hai người nầy đến trình diện họ, các tên lính Mã Lai dùng báng súng đánh hai người nầy rất dã man. Mọi người rất lo lắng đến run sợ vì sau 8 ngày trên biển, chúng tôi hết sức mệt mỏi, muốn được nằm ngay trên bãi biển nầy ngủ cho một giấc. Chúng tôi không biết số phận của mình sẽ ra sao.


Đến gần chiều tối, có nhiều xe chở quân, kiểu xe GMC của mình, đến đưa chúng tôi về một trại tạm cư mà sau nầy tôi biết đó là quận Kota Baru, thuộc tỉnh Kelantang, cách biên giới Thái Lan 10 cây số về hướng Bắc.

Ngày 20 tháng 6, 1979, Ban Giám Đốc trại, tạm gọi như vậy, cho lập danh sách tất cả người vượt biển trong trại lúc ấy có khoảng trên dưới 1.000 người. Tiếp theo, chúng tôi được chích ngừa mà tôi không nhớ họ chích ngừa bịnh gì. Mọi người vui cười hớn hở vì có tin chúng tôi sẽ được đưa đi Bidong là đảo tị nạn quốc tế. Chúng tôi đều biết rằng đến Bidong chúng tôi mới có hy vọng nộp đơn xin định cư ở Mỹ, Úc, Canada…

Ngày 23 tháng 6, 1979, tất cả boat people Việt Nam, già trẻ, lớn bé… đều được đưa lên những chiếc tàu vượt biển của người tị nạn, lần lượt các chiếc tàu chiến Mã Lai dùng dây thừng kéo tàu chúng tôi ra biển. Số phận tang thương đang chờ sẵn mà chúng tôi không biết. Sau ba ngày hai đêm được kéo, chiều ngày 25 tháng 6,1979, giữa đại dương mênh mông không thấy bến bờ, chỉ có trời và nước, ông thuyền trưởng đứng trên bơong tàu, nói với chúng tôi, tay chỉ về hướng xa xa, các anh có thấy bờ kia không, hãy cho tàu chạy về hướng đó. Nói xong, một tên thủy thủ chặt dây thừng và chiến hạm Mã Lai bỏ chúng tôi chạy đi. Tôi nhìn sợi dây thừng từ từ rớt xuống mặt biển kêu đánh “bạch” một tiếng mà như đứt ruột. Tàu chiến Mã Lai đã kéo tất cả người Việt tị nạn ra biển để cho họ lênh đênh và chết dần. Có tin họ kéo trung bình mỗi tuần 10,000 người bỏ ra biển, lý do: thứ nhất, để làm chùn chân những người Việt tị nạn cứ ùn ùn đổ vào Mã Lai khiến họ gánh một gánh nặng; thứ hai, để làm áp lực với các quốc gia đã chấp nhận lấy người tị nạn nhưng còn chậm chạp thủ tục.

Và đó là người Mã Lai.

(Bài nầy có tính cách thuật lại một sự việc. Phần phê phán là quyền của độc giả.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bài 1: của em Megan Thy Châu, trường Hồng Bằng Tết Tết đến con được mặc áo dài. Tết đến gia đình tụ hôp ăn mừng năm mới. Tết đến con thiach coi múa lân và được lì ì. Con thích Tết. Megan Thy Châu Lớp 1 A2 Việt Ngữ Ảnh: Hoa ngày Tết (tranh vẽ của Megan Thy Châu)
Tết qua rồi Nhưng mùa đông vẫn còn Nhiều loài chim trốn lạnh Vẫn chưa trở lại Và cây chờ chim tới mới có hoa Nên vườn nhà em còn trơ trụi xấu lắm Con sóc nhỏ trốn trong hốc cây Cũng làm biếng leo trèo mỗi sáng sớm!
Tóm tắt: Ngày xưa có một vị hoàng tử bị mụ phù thủy nhốt trong chiếc hộp sắt đem bỏ trong rừng sâu. Một ngày nọ, có công chúa nước láng giềng vào rừng chơi rồi bị lạc đường, nhìn thấy chiếc hộp. Có tiếng nói trong hộp phát ra, nếu công chúa bằng lòng lấy người trong hộp thì sẽ được hướng dẫn về nhà. Công chúa bằng lòng, nhưng vua cha lại tráo hai người con gái khác đến mở chiếc hộp. Cả hai đều bị phát giác. Công chúa phải đích thân đi, vì nếu không, cung điện sẽ sụp đổ thành đống gạch vụn. Công chúa mở được hộp và gặp hoàng tử từ trong hộp bước ra. Nhưng công chúa xin với Hoàng tử cho nàng về nhà thăm vua cha trước khi làm lễ cưới. Hoàng tử bằng lòng với điều kiện chỉ được nói ba câu với gia đình rồi phải trở về. Công chúa về đến nhà vui quá, quên lời hoàng tử dặn. Khi nhớ ra, trở lại thì hoàng tử và cả chiếc hộp sắt cũng không còn... Nàng đi trong rừng trong 9 ngày, vừa sợ vừa đói, ban đêm nàng leo lên cây ngồi.
Tác giả đã nhận Giải Việt bút Trùng Quang 2016 và thêm Giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018. Ông tốt nghiệp cử nhân về Ngôn Ngữ Học tiếng Tây-Ban-Nha tại UC Irvine. Sau 5 năm rời trường để theo học tại UCLA, tốt nghiệp với hai bằng cao học và tiến sĩ về ngành Ngôn Ngữ Học các thứ tiếng gốc La-Tinh, ông trở lại trường cũ và thành người đầu tiên giảng dạy chương trình tiếng Việt, văn hoá Việt từ năm 2000 cho tới nay.
Hậu Thế Đã Có Những Nhận Xét Gì Về Những Biến Cố Này? - Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa đầu tiên của người Việt nhằm đánh đuổi người Tầu, giành lại nền độc lập cho dân tộc sau một trăm năm mươi năm nước ta bị Nhà Hán đô hộ.
Chiều ngày 26/2/2019, vài giờ trước khi ông Trump đến Hà Nội, hàng nghìn công nhân Công ty TNHH HAI VINA Kim Liên, Nghệ An đã đồng loạt nghỉ việc, tập trung giữa sân công ty để yêu cầu giải thích về việc một số phụ cấp bị cắt giảm.
Hình như vì bản chất quá cứng rắn, quá mạnh mẽ của hai nhà lãnh đạo Mỹ và Triều Tiên, Tổng thống Donald Trump và Chủ tich Kim Jong-un đã khiến thượng đỉnh Mỹ-Triều 2 tai Hà Nội thất bại?
Cách xa trung tâm Little SaiGon về hướng đông khoảng gần ba giờ lái xe, có một thành phố nhỏ, ít dân cư, khô cằn và nóng bức, một thiền viện khang trang được dựng lên trong khu đất rộng lớn, chỉ có một vị Hòa Thượng già
Thứ Bảy 16/3/2019 - tại Garden Grove -- có 2 diễn giả là Đạo diễn Fred Koster (phim “Ride the Thunder”) và Ông Phạm Văn Nam thuộc nhóm thực hiện Phim “Through Our Eyes – The Vietnam War”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.