Hôm nay,  

Văn Chương Mô Phỏng

31/01/200100:00:00(Xem: 12663)

Giải thưởng Goncourt 1997 của Pháp về tay một nhà văn chuyên môn 'bắt chước' người khác: Marguerite Duraille, tức Patrick Rambaud. Marguerite Duraille, là từ Marguerite Duras, một nhà văn nữ nổi tiếng của Pháp. Tác phẩm của 'ông vua ăn trộm' này cũng từ Duras: Mururoa mon amour (Hiroshima mon amour). Chúng ta tự hỏi, chuyện 'mô phỏng' trong văn chương, là do quá say mê 'thần tượng', hay là do thiếu khả năng sáng tạo. Dù thế nào, thì đây cũng là một dòng văn chương hoàn toàn riêng lẻ, với những đại gia như De Reboux, Eco... Một trong những cuốn sách của Eco, riêng tựa đề thôi, đã là một xúc phạm tới những đầu óc nghiêm túc: Làm thế nào dạo chơi với một chú cá hồi. Tác phẩm nổi tiếng của nhà văn này, Tên của bông hồng, là một món 'dựa mận' nào Conan Doyle, Borges, cùng với cả lô tác giả thời trung cổ. 'Mộc tồn' hai lửa mới ngon, dân nhậu chúng ta đã có kinh nghiệm về chuyện này rồi. Nội từ 'mộc tồn' không thôi, là đã trải qua mấy kiếp 'mô phỏng': mộc tồn=cây còn= con cầy.
Đây là một câu chuyện 'nghiêm túc': Những giáo sư trường Mỹ Nghệ, khi bắt học trò tới 'cọp dê' những họa phẩm tại Louvre, tại Sorbonne, đã coi mô phỏng là bài tập bắt buộc, không thể thay thế được. Nhiều nhà văn, trước khi nhẩy xuống nước, đã phải học bơi ở những tiền bối. Trước khi vào trận với 'Đi tìm', Proust đã 'tam kiến thảo lư' hàng lô Khổng Minh. Đề tài mà ông quan tâm: một chuyện ăn trộm (escroquerie) làm say mê dư luận. Và ông đã thử kể, cùng một câu chuyện, bằng 9 cây viết khác nhau: Renan, Sainte-Beuve, anh em nhà Goncourt, Michelet, Saint-Simon, Balzac... Trong khi 'hì hục' như vậy, ông trở thành ngang hàng với họ.
Patrick Rambaud, Goncourt 1997 với cuốn Trận đánh, La Bataille (nhà xb Grasset), rất say mê mấy trò mô phỏng của bậc đàn anh Proust. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ Đọc (Lire), ông phân biệt giữa mô phỏng (pastiche), và nhại (parodie). Giữa say mê, ngưỡng mộ, và chế nhạo. Cùng với chế nhạo là sự độc ác, ở một mức độ nào đó. Là một độc giả trung thành của Reboux và Muller, qua cuốn Phỏng theo... (A la manière de...), ông tự hỏi, liệu có thể 'tái tạo' kinh nghiệm này với những tác giả đồng thời. Và sau đó, với sự cộng tác của một người bạn, chừng 40 tác phẩm 'nhạo, nhại' đã ra đời, như 'Roland Barthes, dễ thôi' (R. Barthes sans peine); Francois Sagan: Một con tầu trong mắt em (nhại Một chút mặt trời trong nước lạnh). Simone de Beauvoir La Farce (Chuyện hề) des choses (La Force des choses). Rồi Aragon, de Gaulle, Phillipe Sollers, André Malraux... Những 'nạn nhân' phản ứng ra sao" Họ đau, đau lắm. Nhiều người giận điên lên. Theo ông, kẻ bị nhại càng lớn đầu, càng dễ đập, niềm vui càng kéo dài. Thí dụ như M. Duras. Bà ta quá gồng mình, quá tự mãn đến nỗi, chẳng khó khăn gì, tôi có ngay hai tác phẩm: Virginie Q. và Mururoa mon amour, cùng ký tên M. Duraille.

Ở Việt Nam, Xuân Sách cũng thật sắc sảo trong trò chơi mô phỏng mấy đàn anh văn nghệ. Nghe kể lại, có những bậc trước khi nhắm mắt, còn ân hận, không được ông chiếu cố! Đến đây, tôi lại nhớ đến nghệ thuật chửi, của mấy bà già nhà quê. Chửi cũng là một hình thức lập lại, những câu chửi có sẵn trong nhân gian, rồi thậm xưng, sáng tạo thêm. Trong những câu chuyện chửi 'tốt', có một, hình như từ Liêu Trai, sau được Hiếu Chân mô phỏng. Đó là câu chuyện mất vịt không chửi. Đại khái như sau: một bà già nhà quê có một bầy vịt, cứ hao hụt dần. Nhưng chẳng bao giờ bà ra đầu ngõ, chổng mông, vén váy tố 'mả cha, mả bố thằng nào, con nào bắt trộm của bà...'. Anh chàng hàng xóm khoái món thịt vịt luộc chấm mắm gừng, một bữa thức dậy, bỗng thấy lông vịt mọc lên, trước còn ít sau cứ thế lan khắp người! Hoảng quá, lên chùa, cầu cứu Phật. Phật nói, muốn hết bệnh, phải đến nhờ bà cụ mất vịt chửi cho! Chửi đến đâu, lông vịt rụng tới đó!
Nhìn theo kiểu 'mô phỏng, xiên lệch' như vậy, chúng ta mới thấy giá trị của những lời 'giải oan' của 'dòng văn chương phản kháng': giả sử không có những lời 'chanh chua' của một Phạm Thị Hoài, thí dụ vậy, không hiểu 'lông vịt' sẽ còn tràn lan tới đâu, trong thế giới toàn trị đó! Trường hợp của Xuân Sách, và những bài thơ của ông, khác với tác giả ăn giải Goncourt là vậy. Nhân đây cũng nên tụng thêm một vài lần, đôi ba vần thơ của ông.
Về Chế Lan Viên:
Điêu tàn ư" Đâu chỉ có điêu tàn
Về Huy Cận:
Các vị La hán chùa Tây phương
Các vị gầy quá, còn tôi béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Không nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày một sáng có sao đâu!

Trang đầu cuốn tiểu thuyết Trận Đánh, là những lời đề tặng, cũng hơi khác thường: Gửi Bà Pham Thi Tieu Hong với yêu thương, Cô Xuan với cảm mến, Ông de Balzac với những lời xin lỗi của tôi. Tại sao lại có những lời xin lỗi ở đây" Tác giả giải thích:
"Tôi muốn dẫn các bạn tới tất cả những kinh tởm, tất cả những vẻ đẹp của chiến trường; trận đánh của tôi, đó là trận Essling'. Cuốn tiểu thuyết này, Balzac đã tính viết, ông nghĩ về nó, ông đi thăm những nơi chốn, gặp gỡ những nhân chứng, ghi chú. Ông tuyên bố ý định của mình, trong một lá thư dài, gửi bà Hanska, nhưng bị chi phối bởi cả ngàn dự án này nọ, ông chẳng bao giờ cho chúng ta được đọc cuốn sách đã ám ảnh ông.
Tại sao Balzac muốn kể lại (trận đánh) Essling" Tại sao ông muốn đưa chúng ta tới ngưỡng cửa thành phố Vienne, vào năm 1809, cùng với Nã Phá Luân" Tại sao không phải (là những trận đánh khác): Marengo, Aboukir, Austerlitz, hay Wagram" Tại sao chỉ nội trong hai ngày trời tàn khốc này, khi con người chẳng còn ham muốn chém giết nhau, vậy mà con số nằm xuống cánh đồng lúa mì là 40 ngàn người" Để tìm hiểu, chỉ còn mỗi một cách là, đến lượt tôi vượt sông Danube, phi ngựa cùng Lames và Masséna, ngửi mùi lửa cháy, run sợ cùng những tiếng đại bác của quân Áo... Thoạt đầu, chỉ là một tra vấn, tiếp theo là tò mò, sau đó là ham muốn, và sau cùng, là một cần thiết."
"Nào lên ngựa!"
Ng. Tuấn Anh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi chỉ kinh ngạc khi nghĩ tới má chạy vào vùng bom đạn để cứu đứa con gái mới hai tháng. Đây là câu chuyện đầu tiên về đời mình tôi được biết – câu chuyện của một đứa bé kẹt ở khúc quanh lịch sử; câu chuyện về tình thương vô điều kiện của người mẹ dành cho đứa con; và câu chuyện trong giờ phút đất nước đổi chủ
Năm đầu tiên vào Sài gòn, tôi được anh chở trên chiếc vespa cà tàng đi khắp nơi. Anh đã giúp tôi chuẩn bị tốt cho kỳ thi vào Cao đẳng Mỹ Thuật Sài gòn dù về sau tôi không theo đuổi nghệ thuật hội họa... Kỷ niệm với anh Du Tử Lê tôi không bao giờ quên và chúng tôi thường nhắc lại mỗi khi ngồi uống café rồi cười với nhau
Đến Ai Cập và Jordan, chúng tôi tự sắp xếp chương trình thăm những nơi mình muốn. Qua Do Thái mấy ngày đầu tự lên lịch tham quan, sau đó nhập vào đoàn người đến từ Mỹ và Úc, trong chuyến hành hương do linh mục Dòng Tên Nguyễn Tầm Thường hướng dẫn.
Tướng Khuyên còn ở Sài Gòn đến ngày 28 tháng 4/1975 mới ra đi. Ông đã ra đi trong khi Sài Gòn đang cơn hấp hối vô phương cứu vãn nổi. Tới Mỹ, Ông xuất gia và tu hành lặng lẽ trong một ngôi chùa cũng lặng lẽ ít đồng hương lễ lạc. Kiếm sĩ Đặng Dung ngày xưa cũng sống như vậy
Truyện Thạch Sanh Lý Thông lưu truyền trong dân gian dưới hình thức chuyện kể truyền miệng chắc có đã lâu. Phải hiện hữu trước khi ông Dương Minh Đức đưa bản văn sáng tác của mình sang bên Quảng Đông khắc ván cũng như từng đưa vài chục tác phẩm khác của nhóm nhờ đó miền Nam Kỳ Lục tỉnh có được một số tác phẩm Nôm đáng kể mà người nghiên cứu Nôm thường gọi là Nôm Phật Trấn
Nhật Bản: Người Việt đứng đầu danh sách người ăn cắp đến từ nước ngoài. Năm 2017, khoảng 260 000 người Việt sống tại Nhật Bản, tăng 8 lần so với 2008. Tội phạm trong Cộng Đồng Việt cũng tăng. Thống kê tại Nhật cho thấy năm 2017, số tội phạm gốc Việt là 5140, chiếm hơn 30% tổng số tội phạm
đài phát thanh yêu cầu người dân phải về nhà trước 23 giờ để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ ngày 22.09.1975, đài loan tin về quy định đổi tiền và kéo dài thời gian giới nghiêm đến 11 giờ sáng. Thời gian đổi tiền sẽ bắt đầu vào lúc 11 cho đến 23 giờ cùng ngày, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ để hoàn thành việc thu và đổi tiền
người có danh, có chức mới viết hồi ký khi về già. Tôi chỉ là một nhà giáo bình thường, chẳng có gì to lớn cả, nên chẳng bao giờ nghĩ đến việc tự viết về mình. Tuy nhiên, qua bao năm sống còn, nghĩ lại mình cũng còn những điều đáng nhớ
Trong thời đại ngày càng gia tăng sự bất ổn và bất an trên khắp toàn cầu, lời Phật dạy về bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết nhau ngày phù hợp đối với tất cả những ai muốn thiết lập một thế giới tốt đẹp và hòa bình.
Nhắc đến biến cố 30 tháng 4 năm 1975 thì người Việt sống ở hải ngoại đều bùi ngùi thương cảm khi nhắc đến cái chết oai hùng của 5 vị tướng đã tự tử trong thời gian kể trên. Nay tôi xin góp nhặt tin tức được kể lại từ nhiều người thân cận tướng Nguyễn Khoa Nam về cuộc sống đời thường của ông
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.