Hôm nay,  

Thư Gửi Bạn Ta

22/01/200500:00:00(Xem: 8374)
[Gửi bác sĩ BVN. NQT]

"Nhà văn nào nổi bật nhờ sự khác biệt của chế độ chính trị thì thường không bền...".
Nguyễn Mộng Giác
[trích bài viết Tản mạn, của Nguyễn Khắc Phê, trên talawas]

Bền, chịu được sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian, theo một nghĩa nào đó, có nghĩa là trở thành cổ điển.
Nhưng thế nào là đương thời, thế nào là cổ điển"-Là một nhà văn đương thời, có nghĩa là, sẽ có hai nhà phê bình, nếu ngồi cùng bàn, một khen hết lời, một chê chẳng kém, cuốn sách bạn vừa mới xuất bản, trong khi cả hai đều mê Truyện Kiều của Nguyễn Du, hay gần hơn, tuỳ bút Nguyễn Tuân.
Tôi không dám nghĩ tới trường hợp, cả hai ông đều chửi um lên!]
Cổ điển, có nghĩa là sống sót được cả hai thằng cha phê bình đó!
Ý trên, mô phỏng Virginia Woolf, trong How it strikes a contemporary. Riêng về cụm từ "chê chẳng kém", bà nữ sĩ Anh này cay độc hơn nhiều: cái thứ đó chỉ đáng giấy chùi đít (waste paper), và nếu lửa đốt không cháy, thì phải dí vào tận đáy lò.

Ý dưới, từ Coetzee, trong What is a Classic"

Nhà văn Nam Phi này nhắc tới một bài diễn thuyết cùng tên, của T.S. Elliot, vào tháng Mười 1944, tại London, khi Đồng Minh đang quần nhau với Nazi tại đất liền (Âu Châu). Về cuộc chiến, ông chỉ nhắc tới, bằng cách xin lỗi thính giả, rằng chỉ là tai nạn của hiện tại (accidents of the present time), một cái hắt hơi, xỉ mũi, đối với cuộc sống của Âu Châu, và nó làm ông không thể sửa soạn chu đáo cho bài nói chuyện.

"Nhà là nơi một người bắt đầu" [Home is where one starts from], "Trong cái bắt đầu là cái chấm dứt của tôi" [In my beginning is my end], nhà thơ [Eliot] cho rằng, để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta phải trở lại với nhà thơ lớn lao nhất, "cổ điển của chính thời đại của chúng ta" (the great poet of the classic of our own times), tức nhà thơ Ba Lan, Zbigniew Herbert.
Với Herbert, đối nghịch Cổ Điển không phải Lãng Mạn, mà là Man Rợ. Với nhà thơ Ba Lan, viết từ mảnh đất văn hóa Tây Phương không ngừng quần thảo với những láng giềng man rợ, không phải cứ có được một vài tính cách quí báu nào đó, là làm cho cổ điển sống sót man rợ.
Nhưng đúng hơn là như thế này: Cái sống sót những xấu xa tồi tệ nhất của chủ nghĩa man rợ, và cứ thế sống sót, đời này qua đời khác, bởi những con người nhất quyết không chịu buông xuôi, nhất quyết bám chặt lấy, với bất cứ mọi tổn thất, (at all costs), cái mà con người quyết giữ đó, được gọi là Cổ Điển.

Như vậy, với chúng ta, cuộc chiến vừa qua, cũng chỉ là một cái hắt hơi của lịch sử. Không phải viết từ những đối nghịch chính trị, như một hậu quả của cuộc chiến đó, mà trở nên bền. Muốn bền, là phải lần tìm cho được, cái gọi là nhà, liệu có đúng như Eliot nói đó không: Nhà là nơi một người bắt đầu.
Hay nhà là nơi cứ thế sống sót những xấu xa của chủ nghĩa Man Rợ, đời này qua đời khác, bởi những con người nhất quyết không chịu buông xuôi, nhất quyết bám chặt lấy, với bất cứ mọi tổn thất...
Câu trên, Nhà là nơi một người bắt đầu, có vẻ như áp dụng cho một nhà văn Việt nam ở hải ngoại.
Câu dưới, có vẻ như dành cho nhà văn trong nước.

Xa quê, nhớ nhà.


Christine Brooke-Rose, trong bài viết Exsul, được in trong cuốn Lưu Vong và Sáng Tạo [Exile and Creativity, nhà xb Duke University, 1998], kể về thời thơ ấu của bà, tại Brussels. Được nuôi dưỡng trong khí hậu nhị-ngôn, Pháp-Anh, bà cứ nghĩ, exile là ex-ile, nghĩa là do chữ “đảo”, ile, tiếng Pháp, mà ra. Bà chắc chắn như vậy, không phải vì Quần Đảo Anh, là chốn bà con họ hàng nơi thường xuyên lui tới của bà, nhưng còn vì, đối với một đứa trẻ, những hòn đảo thật diệu kỳ: nào là Đảo Kho Tàng, Đảo Lỗ-bình-sơn, miền đất không bao giờ-không bao giờ của Peter Pan (Peter Pan’s never-never land)... Lưu vong như thế có nghĩa là một ốc đảo cô đơn, một nơi chốn mà đứa trẻ, với cuốn sách, tập làm quen với nỗi cô đơn, thèm được ở mãi trong đó, và sẽ hết sức bực dọc nếu bị đuổi ra...
Nhưng không phải vậy.
Exile (La-tinh exilium, trước đó exsilium; exul, exsul, một người bị bỏ, bị biếm), từ lâu vốn được coi như liên hệ với solum, đất (soil), nhưng bây giờ (coi tự điển La-tinh, E.A. Andrews biên soạn, nhà xb Harper, 1987), gốc rễ của nó là sal, tiếng Sankrit sar (đi, to go), L. saline/saltare; và L. exsilio có nghĩa là ‘nhẩy lên’ (spring from). Nhưng sau đó, trong tiếng Pháp Cổ, exilier hay essilier có nghĩa là ‘to ravage’, ‘to devastate’, dây mơ rễ má của nó còn nhận thấy qua từ exterminate, nghĩa đen là ‘vượt quá biên cương, bờ luỹ’.
Thành thử ngoài nỗi đau khổ vì bị biếm, còn chuyện lao tới một cuộc đời mới, vượt ra khỏi những lũy tre làng thân quen (vượt ra khỏi những biên cương của một cái đảo tự mình tạo ra cho chính mình). Thí dụ như, “Ý đại lợi, thiên đàng của lưu đầy”, Shelly viết, năm 1818.
Đây là nghĩa “đẹp” của nó.
Còn nghĩa ‘đau thương’ thê thảm của nó, thì có, thí dụ như, lời nói chót của Đức Giáo Hoàng Gregory VII: “Tôi yêu sự chính trực, điều phải, thù ghét sự bất công, cho nên tôi phải chết trong lưu đầy.”
Vẫn theo tác giả, ngày nay, không một nhà văn nào thực sự xứng đáng là một lưu đầy xứ người, so với những chính trị gia. Nhưng bởi vì là nhà văn, nên họ thường đưa ra được nhiều vấn nạn hơn là những khuôn mặt chính trị. Và được kể là những khuôn mặt chính trị, theo tác giả, có những thường nhân, thí dụ như một người nướng bánh, một ông thợ mộc...

Như đoạn viết trên cho thấy, ngày nay, nhà văn thua nhà chính trị, nếu nói về lưu vong. Những nhà văn đi về cùng một nghĩa như nhau, lại càng thua những nhà chính trị, nhất là những ông, sau khi cho in sách một cách rất ư là tự do, bèn đưa sách về nhà để xin được kiểm duyệt.
Thành thử, nhà văn thua thường dân xa, bởi vì thường dân, vẫn còn coi họ là lưu vong, hơn cả nhà văn, như trong bài viết trên cho thấy.

Tôi đã hân hạnh được quen một ông, một vị bác sĩ. Ông già của ông, ở Việt Nam, nằm hấp hối ở bệnh viện. Ông về, suốt thời gian, ở bên giường bệnh của ông cụ, ở bệnh viện, sau đó, ở bên quan tài của ông cụ, khi ông cụ mất. Đưa ông cụ về với đất, là ông đi trở ra ngoài này liền. Ông nói, tôi muốn làm khác đi, cũng không được.
Theo tôi, ông bạn của tôi được hưởng cả hai cái sướng, của cả hai câu ở trên, một, “Ý đại lợi, thiên đàng của lưu đầy”, của Shelly viết, năm 1818, và một, “Tôi yêu sự chính trực, điều phải, thù ghét sự bất công, cho nên tôi phải chết trong lưu đầy”, của Đức Giáo Hoàng Gregory VII.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tóm tắt: Ngày xưa có hai anh em mẹ mất sớm, sống với dì ghẻ quá ác độc nên người anh dẫn em gái trốn khỏi nhà. Dì ghẻ là một bà phù thủy, đã dùng phép thuật biến người anh thành một con Mang. Cô em gái tìm được một túp lều nhỏ trong rừng, hằng ngày hái trái về nuôi anh. Cuộc sống rất an lành thì bỗng một hôm nhà vua cùng tùy tùng đến khu rừng săn bắn. Cuộc săn kéo dài nhiều ngày và người anh xin em cho mình ra khỏi lều dự cuộc săn. Đến ngày thứ ba, Mang bị thương, nên có người biết chỗ ở của Mang , về báo cho vua hay. Hôm sau, chân Mang lành hẳn, lại xin em cho tham dự cuộc săn. Nhà vua đi tới túp lều, đã sửng sờ trước vẻ đẹp của cô gái và xin cưới cô về làm vợ. Cô bằng lòng và đem Mang về hoàng cung. Bà dì ghẻ tưởng hai anh em đã bị thú dữ xé xác ăn thịt, nghe tin cô em đã thành hoàng hậu thì tức giận, ghen tức. Cô con gái của mụ, xấu như ma lem, lại chột một mắt, cũng hờn dỗi khóc lóc muốn soán ngôi hoàng hậu. Mụ phù thủy hứa sẽ dùng kế...
Khi cá Ông từ trần… lòng người cũng hoang mang. Bản tin Kênh 14 kể chuyện Phan Thiết: Ngày 29/5, các ngư dân phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận phát hiện xác một cá Ông lụy ngoài khơi, sau đó tiến hành kéo vào bờ tổ chức an táng theo phong tục địa phương.
Em lớn lên từ tấm lòng biển cả Bát ngát tình người, ruộng mật bờ xôi Bàn tay nào chăm lo từng tấm tã? Cho hôm nay em được lớn thành người Đám trẻ mồ côi bây giờ đã lớn Ba mươi năm mài miệt mái hiên trường Ngày tốt nghiệp trong giảng đường đại học Hẹn cùng nhau đồng trở lại quê hương
Trà Vinh có đầu gà đít vị, Tiều lai Miên (!), hoặc Miên lai Việt nên con lai, nhứt là con gái, thừa hưởng của Tía mình một chút, của Má mình một chút,. tổng hợp toàn tinh hoa, nên em nó đẹp não nùng. Đẹp đến nỗi mấy anh xứ Nẫu quê mình, tuốt tự Quảng Nam, phiêu bạt vào, dẫu còn nhớ con ‘ghệ’ mình ở quê xưa, mà vẫn thấy con tim mình tan nát!
Hóa không bay vút miền miên viễn, Xác trần tháo cởi, hạnh vô biên. Đọa đày mạt kiếp giờ quên lửng, Nhẹ tênh bụi rắc rũ oan khiên. Mừng rơn thanh thoát cơ man đấy, Bỗng chợt động tâm: khóe mắt đầy. Giọt nước người xưa ươn ướt đọng, Rừng xanh đất đỏ lấp khôn khuây.
Một cách lịch sự hơn thì Trung Quốc bày tỏ hy vọng rằng trong khoảng một thập kỷ nữa, Mỹ sẽ học được sự khiêm tốn để chấp nhận Trung Quốc như một nước bình đẳng với mình và cùng lúc ấy có đủ khôn ngoan để tránh kích động Trung Quốc ở sân sau châu Á.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.