Hôm nay,  

Luật Pháp Phổ Thông

13/02/200600:00:00(Xem: 16060)
[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang vừa được xuất bản. Qúy độc giả có thể mua sách qua internet bằng cách lên Website Google (google.com) đánh máy chữ “ho ledinh”, rồi theo sự hướng dẫn của các websites.]

Hỏi (Bà Trần TT): Vào dịp Giáng Sinh vừa qua, lần đầu tiên con tôi về Việt Nam thăm gia đình. Sau đó cháu đã trở lại Úc để đón tết Dương Lịch.
Khi đến phi trường quốc tế Sydney, cháu đã bị bắt về tội nhập lậu ma túy vào Úc. Kể từ ngày đó cho đến nay tính ra đã hơn 1 tháng, cháu đã ra hầu tòa và nộp đơn xin tại ngoại nhưng đã bị từ chối. Cháu đã không chịu nhận tội. Tôi có vào trung tâm tạm giam thăm cháu và được cháu cho biết chi tiết của sự việc như sau:
Trước khi rời Việt Nam, có 2 người quen đã đến gặp cháu và gởi 20 cây kem đánh răng hiệu Colgate, cùng hơn 10 bàn chải và một số đề thủ công nghệ và 4 bức tranh sơn mài nhỏ để treo tường. Cháu tôi có hỏi là gởi cho ai, đồng thời yêu cầu họ viết rõ tên và địa chỉ của người nhận đặng cháu tôi đem đến nhà giúp cho họ.
Tuy nhiên 2 người này đã cho biết rằng cháu không cần phải quan tâm, đồng thời nói rằng việc cháu đem những món quá chế tạo từ quê hương đến Úc là tốt lắm rồi, việc còn lại để họ gởi email hoặc điện thoại bảo con của họ đến nhà cháu tôi đặng nhận quà. Sau đó họ có xin địa chỉ cùng số điện thoại của cháu.
Tất cả các đồ đạc họ gởi đều được gói cẩn thận trong một hộp giấy nhỏ, riêng 4 bức tranh sơn mài nhỏ thì được lót giấy và buộc dây rất cẩn thận. Khi đến phi trường Sydney, cháu xuống máy bay và làm tất cả những thủ tục cần thiết, sau đó cháu đến nhận hành lý.
Khi các nhân viên quan thuế tại phi trường Sydney khám xét hành lý và đồ đạc của cháu, họ đã phát hiện được rằng hầu hết các ống kem Colgate đều có chứa bạch phiến ở trong đó.
Thế là cháu được mời vào văn phòng để làm việc, sau đó họ đã báo cho cháu biết rằng số lượng bạch phiến mà cháu đã mang vào Úc là hơn 230gr. Thế là cháu bị bắt và bị cáo buộc với tội trạng vừa nêu.
Xin LS cho biết là trong tình huống vừa nêu liệu cháu có bị tòa kết tội hay không" Nếu bị kết tội thì thời gian thụ hình khoảng bao lâu" Trong lúc chờ đợi xét xử cháu có thể nộp đơn xin tại ngoại được không" cháu chưa một lần bị kết án trước đây.

*

Trả lời: Trong vụ R v Armas Cajuires [1999] NSWCCA 282. Sự kiện trong vụ đó có thể tóm lược như sau: Bị cáo là người Guantemala, 52 tuổi. vào ngày 6 tháng 6 năm 1998, bị cáo đến phi trường phi trường Sydney trên chuyến bay thuộc hãng Air Pacific cất cánh từ Los Angeles. Bị cáo đi một mình và có cả vé khứ hồi. Bị cáo đã liên lạc và đã giữ chỗ trước tại khách sạn Gemini, thuộc vùng Randwick, nhưng chỉ giữ chỗ ở một ngày tại khách sạn này.
Sau khi nhân viên quan thuế lục xét “túi xách đeo lưng” (backpack), đây là một trong những túi hành lý của bị cáo. Họ đã tìm thấy lượng “ma túy tinh chất” (pure drug) 712.49 grams được cất giấu ở trong đó. Bị cáo đã bị bắt và đưa về đồn cảnh sát để được thẩm vấn.
Tại đây bị cáo cho biết là đã cư ngụ tại Hoa Kỳ từ năm 20 tuổi. Chưa bao giờ có tiền án. Mặc dầu ở Mỹ lâu như vậy nhưng vào lúc bị thẩm vấn cũng như vào lúc xét xử, bị cáo đã phải nhờ sự trợ giúp của thông dịch viên nói tiếng “Tây Ban Nha” (Spanish).
Bị cáo đưa ra “lời khai quanh co” (prevarication) là không hề hay biết trong túi xách đeo lưng có chứa ma túy, vì túi xách này được một người bạn nhờ đem sang Úc và người bạn đó yêu cầu “nếu có ai đề nghị mua nó thì nên bán nó cho họ” (if someone offered to buy it, you should sell it to them). Bị cáo khai là đến Úc nghỉ hè.


Có thể nói rằng, những lời khai của bị cáo với cảnh sát liên bang là những lời khai quanh co. Tuy vậy, cuối cùng bị cáo cũng đã nhận tội trước tòa án sơ thẩm và đã được đưa lên tòa án vùng để xét xử.
Tại tòa án vùng, bị cáo khai là người đàn ông trao túi xách đeo lưng cho bị cáo để mang đến Úc đã trao vé máy bay cho bị cáo, đồng thời bị cáo cũng được trao cho $1,000 và được hứa rằng khi trở lại Mỹ bị cáo sẽ được trả thêm $3,000 nữa.
“Bị cáo thú nhận rằng bị cáo đã nghi là có cái gì đó bất hợp pháp trong túi xách và ý tưởng cái đó có thể là ma túy đã thoáng qua trong tâm trí của đương sự” (The accused admitted that he suspected that there was something illegal in the bag and that the thought that it might be drugs had crossed his mind).
“Bị cáo đã bày tỏ sự ân hận về những gì bị cáo đã làm và về việc bị cáo thiếu thành thật và đã cố dối gạt khi bị cảnh sát thẩm vấn” (The accused expressed remorse for what he had done and for his lack of candour and attempted deceptions when interviewed by police).
Vị thẩm phán tọa xử đã cho rằng việc bị cáo đi du lịch đến úc hoàn toàn do mục đích thương mãi theo nghĩa là phí tổn chuyến đi của bị cáo đã được trả, đồng thời bị cáo đã nhận được tiền và được hứa sẽ trả thêm cho việc làm đó của bị cáo. Tòa đã tuyên phạt bị cáo bản án tù 8 năm 6 tháng “với thời gian thụ hình tối thiểu là 6 năm rưỡi” (with a non parole period of six and a half years).
Luật sư của bị cáo bèn kháng án bèn kháng án vì cho rằng bản án quá nặng, và rằng “thời gian thụ hình tối thiểu” (non parole period) là quá dài (76%) so với bản án tù.
Tòa kháng án hình sự đã thừa nhận mức độ của các bản án tù đối với những người vận chuyển số lượng ma túy khá lớn có thể bị xử từ 8 năm rưỡi đến 11 năm [hiện nay luật quy định lượng ma túy vận chuyển được xem là “số lượng thương mãi” (commercial quantity) là 250g cho các loại Heroin, Cocaine và Amphetamine. 2.5kg đối với “nhựa cần” (Cannabis resin), 500 g cho “dầu cần” (Cannabis oil), 25 kg đối với “lá cần sa” (Cannabis leaf)].
Tòa cho rằng thời gian thụ hình tối thiểu áp dụng cho bị cáo, một người chưa từng có tiền án hơn nữa vào lúc xử án bị cáo đã 52 tuổi, là quá cáo. Tòa cũng đã cho rằng thời gian thụ hình tối thiểu được quy định 75% so với toàn bộ bản án chỉ nên áp dụng trong những vụ án mà bị cáo đã vi phạm tồi tệ. Thông thường thì tòa đưa ra phán quyết buộc bị cáo phải thụ hình thời gian tối thiểu từ 60 đến 66% hoặc 1/3 của bản án như đã được đề ra trong vụ R v Bernier [1998] 102 A Crim R 44.
Cuối cùng Tòa Kháng án Hình Sự đã hủy bỏ bản án của tòa án vùng và thay vào đó bản án 7 năm tù với thời gian thụ hình tối thiểu là 4 năm 6 tháng.
Như trên đã trình bày ông có thể thấy được rằng hiện nay luật pháp quy định thời gian thụ hình rất khắt khe đã được áp dụng cho những ai vận chuyển ma túy vào nước Úc với “số lượng thương mãi.” Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Đặc biệt là mức độ tinh chất của ma túy.
Trong thư, ông đã cho chúng tôi biết về số lượng ma túy mà cháu đã mang vào Úc nhưng về mức độ tinh chất của ma túy thì cần phản chờ đợi sự phân chất của các chuyên gia chuyên ngành. Việc cháu có tội hay không còn tùy thuộc vào tình huống, vào các sự kiện liên hệ, đặc biệt là tùy thuộc vào lời khai của cháu.
Riêng về vấn đề tại ngoại, chúng tôi đề nghị là ông không nên xin tái xét về việc xin tại ngoại cho cháu, vì điều này sẽ tốn thêm phí tổn vô ích. Các tội trạng thuộc loại này rất khó để được tại ngoại. Tôi đề nghị ông cần phải mang hồ sơ cùng những lời khai của cháu đến gặp luật sư để được cố vấn tường tận hơn.
Nếu còn thắc mắc xin gọi điện thoại cho chúng tôi để được giải đáp.

Thái Tử Siddhata Gautama quyến tâm đi tìm một phương án giúp cho nhân lồi thốt khỏi khổ đau, Ơng báo cho hiền thê Yasodhara biết Ơng phải đi tìm một chân lý. Yasodhara cảm nhận quyết tâm của Ơng thế là vào một đêm khuya tỉnh mịch ,Ơng rời Vương Cung Thích Ca, bước qua cổng thành đơng mơn đi vào núi Linh Thửu tu khổ hạnh.
Tơi đến phố cổ Hội An vào một ngày khơng nắng. Trời tối thui lúc sáng, lúc còn mây làm cho cái tài chụp hình của tơi khơng mấy sáng sủa. Bất chợt đi ngang qua gian hàng bán lồng đèn, những chiếc lồng đèn màu sắc rực rỡ treo lủng lẳng lọt vào mắt tơi...
Tù nhân Bá là một Trung Úy CSQG/VNCH, tuổi trẻ, đẹp trai, đầy phong độ,vang bóng một thời trước năm 1975, tùng sự trong toán tuần cảnh hỗn hợp xe lưu động nha CSQG Đô Thành Saigon phối hơp với Quân cảnh Mỹ tuần tiễu khắp đô Saigon nhằm mục đích kiểm soát và chấn chỉnh những Cảnh sát, và quân nhân Mỹ nào ăn mặc bê bối không đúng quân phong quân kỷ
Thường thường mỗi khi ngày Lễ Vu Lan hay Mother’s Day tràn về, Mùa Nhớ Thương Mẹ, sắp đến, là mỗi lần làm cho con buồn bã, nghĩ vơ nghĩ vẩn, lo sợ viển vông, bởi những ám ảnh ưu phiền, ngày con mất Mẹ trong quá khứ, nó vẫn còn lẩn tha lẩn thẩn đâu đây, để đày đọa tâm tư con lịm chết.
Anh hàng xóm Trung Quốc luôn luôn là nỗi lo lớn cho dân tộc Việt Nam… Không rõ các quan chức Hà Nội có chung một cảm xúc như thế không.
Tác giả hiện là cư dân Arkansas, đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2017. Bà tên thật Trịnh Thị Đông, sinh năm 1951, nguyên quán Bình Dương. Nghề nghiệp: Giáo viên anh ngữ cấp 2. Với bút hiệu Dong Trinh, bà dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 7, 2016, và luôn cho thấy sức viết mạnh mẽ và cách viết đơn giản mà chân thành, xúc động. Sau đây, là bài mới viết về đứa con phải rời mẹ từ lúc sơ sinh năm 1975, hơn 40 năm sau khi đã thành người Mỹ ở New York vẫn khắc khoải về người mẹ bất hạnh.
Trần Đại Quang không chấp nhận ra đi dễ dàng như ông Đinh Thế Huynh. Sự cố gắng trở về từ nơi chữa bệnh và góp mặt, góp tiếng của ông Quang tại Hội Nghị 7 đã phát ra một làn sóng năng lực đáng kể và trở thành lớp keo liên kết các phe phái không theo ông Trọng.
Để Bày Tỏ Sự Ủng Hộ Dự Luật SB 895, Thiết Lập Chương Trình Giảng Dạy Toàn Tiểu Bang Về Chiến Tranh Việt Nam Cộng Hòa, Thời Hậu Chiến, Và Những Đau Thương Mất Mát Trên Đường Đi Tìm Tự Do
kỷ niệm Ngày Nhân Quyền cho VN, tại Văn Phòng Thượng Viện HK , BTC gồm có CT Đinh Hùng Cường, CT CĐ HTĐ, MD&VA, BS Nguyễn Quốc Quân, Ông Võ Thành Nhân, Đài SBTN - DC. Do TNS Jonh Cornnyn, TX và một số Dân biểu bảo trợ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.