Hôm nay,  

Thơ Thơ

29/04/200000:00:00(Xem: 13348)
Tuần trước, cụ Vũ Hồ đã gửi một lá thư cho mục Mực Thắm Chỉ Xanh. Tuần này, trang Thơ Thơ hân hạnh nhận được lá thư của cụ viết về thi sĩ Hồ Dzếnh. Thay mặt tòa soạn, Thùy Dzung chân thành cảm ơn cụ Vũ Hồ, và sau đây, Thùy Dzung xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của cụ.

Tuần rồi có dịp trở lại thành phố Perth, tôi tình cờ biết được trang Thơ Thơ của Sàigòn Times tái ngộ bạn đọc. Đọc trang Thơ Thơ của của qúy bạn, tôi thấy thật xúc động. Ở bên Úc này, sống trong thân phận của kẻ ly hương mà còn nhớ đến thơ văn tiếng Việt đã là qúy. Ra được tờ báo, mở được mục thơ văn, tạo cho bạn đọc có dịp đăng thơ văn lại càng qúy hơn. Chính vì có lòng trân trọng dành cho trang Thơ Thơ của bạn trẻ Thùy Dzung nên hôm nay tôi viết vài dòng, trước là tâm sự với cô, sau là tâm sự cùng các bạn yêu thơ về thi sĩ Hồ Dzếnh. Tôi bây giờ tuổi đã già, da mồi tóc bạc, nhưng chẳng hiểu sao tôi vẫn thích thơ của Hồ Dzếnh.

Bạn đừng hỏi tại sao nhé! Chuyện thích một nhà thơ có cả ngàn lý do nên tốt nhất là chả nói ra làm gì. Có điều thân phận của tôi cũng tương tự như Hồ Dzếnh, cũng mang trong người hai dòng máu Việt Hoa nên tôi thuộc thơ yêu thơ của Hồ Dzếnh bằng cả tấm lòng.

Chính vì những xúc động khôn cầm đối với một thi nhân, tôi không thể không cầm viết viết vài hàng gửi tới bạn gọi là chút ít tâm sự của một người yêu thơ nhưng phải sống trong cảnh "góa bụa, cô đơn không một ai bầu bạn, tâm sự".

Tôi nhớ khi Thanh Tịnh qua đời, Hồ Dzếnh có viết một bài thơ đến bây giờ tôi còn thuộc lõm bõm như thế này.

Đời xếp anh, tôi và Thạch Lam
Ngồi chung một chiếu hội văn đàn
Chao ôi, chiếu đã hai lần lạnh
Còn lại mình tôi với thế gian

Dẫu biết đường đi chỉ có chừng
Gió chiều sao vẫn ớn trên lưng"
Trái tim bỗng dội niềm xao xuyến
Tàu rẽ vào ga. Chặng cuối cùng.

Thôi nhé, anh về vui bạn cũ
Tôi chờ đến hẹn lại thăm anh
Lòng ta như nước sông Hương ấy
Vời vợi trời thu, dáng núi xanh.

Đọc bài thơ, bạn phải đồng ý với tôi trong thơ của Hồ Dzếnh vẫn có một vẻ điềm đạm, đôn hậu cố hữu cộng với những gì vừa trầm tư, vừa buồn man mác mặc dù những vần thơ trên đây so với thơ thời tiền chiến được Hồ Dzếnh sáng tác cách nhau một khoảng thời gian dài tới 40 năm là ít.

Thì ra là như vậy đấy phải không bạn. Cái văn phong và cái thi phong là một cái gì rất chi ư là đặc biệt mang đậm đà hương vị của một người. Hồ Dzếnh viết đâu có nhiều đến mức "trước tác đẳng thân"(1) phải không bạn. Vậy mà đọc thơ Hồ Dzếnh ai ai cũng nhận ra được đó là thơ của ông.

Nhớ trước đây, tôi có một thằng bạn cũng yêu thơ còn hơn yêu bồ. Nó vẫn nói với tôi, đời của nó mang cái buồn không tên của Hồ Dzếnh. Tôi thì tôi đồng ý trong thơ của Hồ Dzếnh có cái buồn nhưng không phải là cái buồn không tên mà là cái buồn nhớ quê.

Bây giờ sống trong cảnh đất khách quê người, tiếng Anh thì lại không biết, tôi mới thấy thấm thía cái buồn của Hồ Dzếnh. Tuổi của tôi năm nay cũng xấp xỉ tuổi của Hồ Dzếnh. Tôi nhớ hình như Hồ Dzếnh sinh vào năm 1920 gì đó. Nhưng vì cha của Hồ Dzếnh là người Quảng, mẹ của Hồ Dzếnh lại là một cô gái lái đò ở một con sông nhỏ miền Thanh Hóa. Và chính trên chiếc đò qua sông chiều hôm đó, mối tình giữa một người khách lữ thứ giang hồ và người con gái lái đò đã nẩy nở.

Vì vậy, trong thơ của Hồ Dzếnh, tôi thấy bao giờ cũng phảng phất nỗi buồn nhớ quê nội. Nhưng có điều những nhớ nhung của Hồ Dzếnh giành cho quê nội bao giờ cũng là những nhớ nhung có tính cách khuôn sáo và ước lệ qua những địa danh, nhân vật đã được điển hình hóa:

Tô Châu lớp lớp phù kiều
Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam

Hay trong bài Đợi Thơ, lời thơ của Hồ Dzếnh vẫn đằm thắm, nỗi nhớ của Hồ Dzếnh vẫn mông lung nhưng vẫn là cái nhớ của một người không có những kỷ niệm bằng xương bằng thịt:

Buồn Tư Mã, nhớ Chiêu Quân
Nét hoa thấp thoáng ý thần đê mê

Nếu so sách những vần thơ viết về làng quê Việt Nam, tôi thấy rõ nỗi nhớ và tình thương của Hồ Dzếnh dành cho Việt Nam tuy giản dị nhưng sâu nặng hơn, gần gũi hơn, cụ thể hơn và có hồn hơn:

Làng tôi thắt đáy lưng... tre
Sông dài, cỏ mượt đường đê tứ mùa
Nhịp đời định sẵn từ xưa:
Ươm tơ tháng sáu, lên chùa tháng giêng.
Chợ làng mỗi qúy, mươi phiên,
Đong ngô, đổi gạo, trang tiền bằng khoai
Trong làng lắm gái, thưa trai
Nên thường có luật chồng hai vợ liền.


Tôi không biết bạn Thùy Dung nghĩ thế nào, riêng tôi, tôi vẫn cho rằng thơ lục bát của Hồ Dzếnh đã tạo cho thể loại lục bát một chỗ đứng đặc biệt trong phong trào Thơ Mới 30-45. Tôi lấy thí dụ như bài Trở Lại của Hồ Dzếnh có những vần thơ lục bát thật là tuyệt:

Phẳng lỳ ngõ trước, ao sau
Đêm đêm cá đớp trăng sầu đêm đêm

Kỳ thực, khi đọc những vần thơ lục bát của Hồ Dzếnh tôi vẫn cảm thấy xao xuyến đến lạ lùng. Bây giờ, tuổi đã già, lưng đã còng, ngồi ôm cháu lúc chiều buông, tôi thấy hiu quạnh, thê lương chi lạ bạn Thùy Dzung ạ. Chính trong nỗi hiu quạnh như vậy tôi lại nhớ tới 13 câu thơ trong bài thơ "Màu Cây Trong Khói" của Hồ Dzếnh:

Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây...
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay"

Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng,
Ngỡ hồn mình là mây,
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây...


Tôi nhớ bài thơ này sau được gọi là Chiều và đã được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ nhạc nên hầu hết những người đã yêu thơ, thích nhạc đều biết đến. Có điều bạn phải đồng ý với tôi là toàn bộ bài thơ chỉ có 13 dòng, mỗi dòng có vỏn vẹn năm chữ, ý tứ nội dung không rõ ràng vậy mà chẳng hiểu sao bài thơ lại tạo cho tôi những rung động kỳ lạ, những nhớ nhung đến... ứa nước mắt được bạn ạ...

Nhà tôi ở hiện nay tuy mang tiếng là ngoại ô nhưng đằng sau là cả một khoảng trống mênh mông tiêu điều nối liền đến tận chân trời tím sẫm những khi nắng chiều tắt. Nhìn về hướng đó, tôi biết đó là quê hương, nơi không biết bao là kỷ niệm thân thương quấn quít...

Trong miếng vườn rộng mênh mông đằng sau nhà, tôi cuốc một miếng đất to bằng chiếc chiếu. Ở đó tôi trồng đủ mọi thứ. Từ ngò gai, xương sông, tía tô, rau dấp cho đến rau cần, bầu bí, mướp... Cũng muốn trồng thật nhiều nhưng tuổi già sức có hạn. Thằng con trai với đứa con dâu chúng cứ cằn nhằn bảo tôi trồng làm gì cho khổ. Mua ngoài tiệm chạp phô đâu có bao nhiêu mà vất vả.

Nghe chúng nói, tôi cứ không nói. Việc mình làm cứ làm. Tuổi chúng nó đâu có hiểu được cái tình của một người già nhớ quê giành cho những cái cây, ngọn cỏ của quê nhà phải không bạn"

Vì nghĩ ngợi lung tung nên viết chẳng đâu vào đâu đang chuyện nọ xọ chuyện kia. Trở lại chuyện Hồ Dzếnh, tôi thấy bên cạnh tài thơ, Hồ Dzếnh còn là người viết truyện ngắn rất hay nữa. Truyện ngắn của ông có tình lắm và nhân vật của ông cũng đa sầu, đa cảm trong cái bối cảnh nhọc nhằn, thiếu thốn của làng quê Việt Nam.

Tôi nhớ hồi tôi tốt nhiệp sư phạm vì mến mộ thi sĩ Đông Hồ và phong cảnh Hà Tiên nên đã xin bằng được về tỉnh Hà Tiên dậy học. Hôm đó, trong giờ Việt văn, tôi ngạc nhiên thấy hai cô học trò cưng của tôi cắm cúi đọc chung một cuốn sách. Khi tôi đến gần, hai cô cùng ngước nhìn tôi, mắt người nào người nấy đẫm lệ. Hỏi ra mới biết cả hai đang đọc truyện "Người Chị Dâu Tôi" của Hồ Dzếnh, một câu truyện thật buồn và thật đáng khóc kể lại một người con gái bạc phận, phải lấy chồng xa, sống ngậm ngùi nơi đất khách quê người.

Điều khiến tôi cảm thấy rung động tuyệt vời khi đọc truyện của Hồ Dzếnh chính là những nhân vật thật gần gũi với cuộc sống cơ cực, được bữa sáng, mất bữa tối nhưng vẫn chịu thương chịu khó, vẫn thủy chung, đôn hậu trong cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam. Đó là hình ảnh người mẹ trong Lòng Mẹ, người chị nuôi trong Chị Yên, người thiếu phụ góa bụa trong Sáng Trăng Suông, người em gái cùng cha khác mẹ trong Em Dìn...

Đọc truyện của Hồ Dzếnh, tôi phải thích thú thừa nhận trong văn xuôi của ông thật giầu tính thơ. Giầu tính thơ mà văn của ông vẫn giản dị, mộc mạc tựa như văn nói, và êm đềm như những người thân ngồi tâm sự với nhau quanh bếp lửa chiều đông... Chính vì vậy nên thân phụ tôi trước đây đã từng ca ngợi Hồ Dzếnh là người đã tận dụng được cái hay, cái đẹp, cái trong sáng của ngôn ngữ Việt Nam và nhờ ông, ngôn ngữ Việt Nam cũng trở nên tuyệt vời hơn, lung linh hơn trong việc diễn tả những phức tạp của suy tư và rung động trong tâm hồn của con người.

Trên đây là vài dòng tâm sự của tôi. Vì rỗi rãi chẳng biết làm gì nên viết hơi dài. Mong bạn Thùy Dzung coi thử nếu được cho đăng, tôi sẽ lấy làm cảm kích bội phần!

(1) Trước tác đẳng thân: Tác phẩm cao bằng người. Chỉ người sáng tác nhiều. (TD chú thích).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bài 1: của em Megan Thy Châu, trường Hồng Bằng Tết Tết đến con được mặc áo dài. Tết đến gia đình tụ hôp ăn mừng năm mới. Tết đến con thiach coi múa lân và được lì ì. Con thích Tết. Megan Thy Châu Lớp 1 A2 Việt Ngữ Ảnh: Hoa ngày Tết (tranh vẽ của Megan Thy Châu)
Tết qua rồi Nhưng mùa đông vẫn còn Nhiều loài chim trốn lạnh Vẫn chưa trở lại Và cây chờ chim tới mới có hoa Nên vườn nhà em còn trơ trụi xấu lắm Con sóc nhỏ trốn trong hốc cây Cũng làm biếng leo trèo mỗi sáng sớm!
Tóm tắt: Ngày xưa có một vị hoàng tử bị mụ phù thủy nhốt trong chiếc hộp sắt đem bỏ trong rừng sâu. Một ngày nọ, có công chúa nước láng giềng vào rừng chơi rồi bị lạc đường, nhìn thấy chiếc hộp. Có tiếng nói trong hộp phát ra, nếu công chúa bằng lòng lấy người trong hộp thì sẽ được hướng dẫn về nhà. Công chúa bằng lòng, nhưng vua cha lại tráo hai người con gái khác đến mở chiếc hộp. Cả hai đều bị phát giác. Công chúa phải đích thân đi, vì nếu không, cung điện sẽ sụp đổ thành đống gạch vụn. Công chúa mở được hộp và gặp hoàng tử từ trong hộp bước ra. Nhưng công chúa xin với Hoàng tử cho nàng về nhà thăm vua cha trước khi làm lễ cưới. Hoàng tử bằng lòng với điều kiện chỉ được nói ba câu với gia đình rồi phải trở về. Công chúa về đến nhà vui quá, quên lời hoàng tử dặn. Khi nhớ ra, trở lại thì hoàng tử và cả chiếc hộp sắt cũng không còn... Nàng đi trong rừng trong 9 ngày, vừa sợ vừa đói, ban đêm nàng leo lên cây ngồi.
Tác giả đã nhận Giải Việt bút Trùng Quang 2016 và thêm Giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018. Ông tốt nghiệp cử nhân về Ngôn Ngữ Học tiếng Tây-Ban-Nha tại UC Irvine. Sau 5 năm rời trường để theo học tại UCLA, tốt nghiệp với hai bằng cao học và tiến sĩ về ngành Ngôn Ngữ Học các thứ tiếng gốc La-Tinh, ông trở lại trường cũ và thành người đầu tiên giảng dạy chương trình tiếng Việt, văn hoá Việt từ năm 2000 cho tới nay.
Hậu Thế Đã Có Những Nhận Xét Gì Về Những Biến Cố Này? - Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa đầu tiên của người Việt nhằm đánh đuổi người Tầu, giành lại nền độc lập cho dân tộc sau một trăm năm mươi năm nước ta bị Nhà Hán đô hộ.
Chiều ngày 26/2/2019, vài giờ trước khi ông Trump đến Hà Nội, hàng nghìn công nhân Công ty TNHH HAI VINA Kim Liên, Nghệ An đã đồng loạt nghỉ việc, tập trung giữa sân công ty để yêu cầu giải thích về việc một số phụ cấp bị cắt giảm.
Hình như vì bản chất quá cứng rắn, quá mạnh mẽ của hai nhà lãnh đạo Mỹ và Triều Tiên, Tổng thống Donald Trump và Chủ tich Kim Jong-un đã khiến thượng đỉnh Mỹ-Triều 2 tai Hà Nội thất bại?
Cách xa trung tâm Little SaiGon về hướng đông khoảng gần ba giờ lái xe, có một thành phố nhỏ, ít dân cư, khô cằn và nóng bức, một thiền viện khang trang được dựng lên trong khu đất rộng lớn, chỉ có một vị Hòa Thượng già
Thứ Bảy 16/3/2019 - tại Garden Grove -- có 2 diễn giả là Đạo diễn Fred Koster (phim “Ride the Thunder”) và Ông Phạm Văn Nam thuộc nhóm thực hiện Phim “Through Our Eyes – The Vietnam War”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.