Hôm nay,  

Hội Trám

23/05/199900:00:00(Xem: 12836)
Dân tộc mình rất mực thơ mộng. Ngay cả những lễ nghi như "cúng sinh thực khí" tưởng như có vẻ sex, nhưng thực ra lại rất là vui nhộn. Các báo quốc nội viết về Hội Trám như sau.
Hội Trám là một hình thức sinh hoạt dân gian được người dân làng Trám thuộc xã Tứ Xã, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng hằng năm. Là quê hương của những lễ cúng sinh thực khí cầu mong sự phồn thực ngày xưa nên những nghi lễ trong hội Trám mang tính hài hước, vui nhộn.
Phong Châu (Phú Thọ) là vùng đất của huyền thoại và lễ hội. Các lễ hội được tổ chức thường vào mùa xuân hằng năm. Bên cạnh những lễ hội mang tính truyền thống như lễ hội đền Hùng, lễ hội đền Tây Thiên... còn có những lễ hội mà phần "lễ" chỉ là "nghi lễ" mở đường cho phần "hội" - phần chủ yếu. Những lễ hội loại này thường mang tính giải trí, nhằm làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân hoặc khuyến khích nhân dân trong một ngành nghề nào đó. Trong lễ hội loại này có hội Trám hay như cách gọi dân dã: trò Trám.
Hội Trám - một hình thức sinh hoạt dân gian được tổ chức ở làng Trám, xã Tứ Xã, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ vào ngày 12 tháng 1 âm lịch hằng năm.
Theo chân các già làng, tôi ra thăm miếu Trò. Nằm sát cánh đồng và làng là một vạt đất vuông vắn được bao bọc bởi những hàng cây lưu niên. Miếu cũ không còn, nhưng những "vật linh" - vật thờ - vẫn được dân làng gìn giữ và bảo tồn cho đến ngày nay. Một ngôi miếu mới - theo cấu trúc và vị trí của miếu cũ - đã được dựng lên. Trên nền miếu này, từ bao đời nay, mỗi năm một lần, dân làng Trám đều tiến hành cúng vật linh và biểu diễn những trò vui của mình. Vật linh được thờ trong miếu là 2 vật (được tạc bằng gỗ) biểu hiện cho nam tính và nữ tính, còn gọi là nõ, nường.
Mở đầu lễ hội là lễ mật, còn gọi là lễ "linh tinh tình phộc". Đây là dấu vết của những lễ cúng sinh thực khí ngày xưa, nhằm mục đích cầu mong sinh sôi nảy nở (phồn thực). Lễ được tổ chức vào nửa đêm. Đúng 0 giờ (giờ Tý) ông Từ miếu dẫn 1 đôi nam nữ (nam thanh nữ tú) ra trước miếu. Nam đóng khố, nữ mặc váy yếm đào. Cùng ông Từ, họ làm lễ khấn vái thần linh miếu Trò và xin âm dương. Họ được trao và khi họ giơ cao 2 vật linh nõ nường thì đèn tắt, đồng thời vang lên khẩu lệnh của ông Từ miếu - "linh tinh tình phộc". Sau khẩu lệnh, đôi nam nữ "phộc" nõ nường vào nhau, đúng 3 lần. Dân làng nín thở chờ đợi, bởi, theo quan niệm của làng, nếu nõ nường "phộc" trúng vào nhau thì năm đó mùa màng sẽ bội thu, cây cối tốt tươi, người vật bình yên khỏe mạnh. (Các cụ kể hầu như chưa có năm nào nõ nường bị trượt, có lẽ bởi vậy, Tứ Xã là một trong những xã thịnh vượng nhất của Phú Thọ).
Sau âm thanh "phộc" vào nhau của nõ nường là tiếng hò rất to của ông Từ miếu: "Tháo khoán". Thoát khỏi mọi ràng buộc, họ ôm nhau reo hò để xua đuổi ma tà quỷ dữ, và để đưa nhau vào những nơi họ được tự do. Những ông già, bà cả đành rút lui chờ lễ tiếp theo - lễ rước lúa thần - được tiến hành vào sáng sớm, khi đã tỏ mặt người.

Sáng 12 tháng Giêng, lễ rước lúa thần được tổ chức hết sức long trọng. Lúa thần là những bông lúa thật to thật mẩy. Lá lúa được tượng trưng bằng lá mía. Lễ rước lúa thần, ngoài mục đích cầu mong cho mùa màng tươi tốt còn là sự ngợi ca lòng biết ơn của dân làng đối với các vua Hùng - những người đã dạy cho người dân nghề trồng lúa nước.
Phần sau cùng của Trò Trám là hội trình nghề "tứ dân chi nghiệp" (sĩ, nông, công, thương). Nói là "tứ dân" nhưng thực ra có rất nhiều nghề. Họ diễn trò tại sân miếu rồi kéo ra các đường làng. ở Trò Trám không có những trò đề cao tài trí, đề cao tinh thần thượng võ... mà chỉ có những trò (và những lời ca) vui nhộn, thậm chí rất tục, mang tính hài hước, mua vui, rất gần với sinh hoạt đời thường (bởi vậy những trò này còn được gọi là trò "nhây nhả").
Mở đầu hội trình nghề là màn giáo đầu, được thực hiện bởi người cầm loa và người cầm biểu. Với những động tác gây cười, người cầm loa dọn chỗ:
Ôi! loa... loa... loa... loa...
Xin mời đôi bên hàng xứ giãn ra
Để phường Trám tôi ra trình trò
Ôi! loa... loa... loa... loa...
Còn người cầm biểu (biểu là cái mẹt, ghi bốn chữ "tứ dân chi nghiệp") đương nhiên cũng với động tác gây cười, sẽ giải thích thế nào là "tứ dân chi nghiệp", thế nào là "sĩ, nông, công, thương"...
Sau màn giáo đầu là các màn trình trò, xen với hề. Các diễn viên khi trình trò bao giờ cũng phải diễn với những động tác gây cười. Bổ sung cho các động tác là những lời ca, những lời ca ngoa dụ, đầy ẩn ý, luôn gợi mở sự liên tưởng, thanh nhưng tục. Trong khi trình nghề nông, tốp thợ cấy với ánh mắt, dáng người, bàn tay... cùng với câu hát ví ẩn ý:
Này chị em ơi
Khi cấy nhớ gốc chổng lên
Ngọn thời cắm xuống mới nên mùa màng
Đã làm cho cánh mày râu cười rung sân miếu, còn các bà, các cô thì nghiêng ngả.
Hay khi trình nghề "công", các diễn viên vừa ca ngợi nghề kéo sợi - cung bông, vừa đưa khán giả vào một sự liên tưởng vui vẻ:
Nữ: Xin đừng quản thấp so cao
Bông em đã nở anh vào mà cung
Nam: Thế là nhất sợi nhì bông
Vừa cán vừa kéo chẳng thông một ngày
Sợi lôi ra bằng cổ chày
Phường chài đến hỏi mua dây kéo thuyền.
Hoặc ngay trong màn dạy học (nghề "sĩ") cũng vậy.
Còn trong nghề "thương", chúng ta sẽ gặp một kiểu mua bán rất lạ. Họ chỉ mua và bán một thứ duy nhất: xuân. Người rao: "Ai mua Xuân nào", kẻ đáp: "Tôi mua Xuân đây" cùng với những lời ca kiểu như:
Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng non có lứa đôi ta có thì
Chơi muộn thì hết xuân đi
Nay lần mai lữa còn gì là xuân!
Lời ca đã thể hiện phần nào bản chất của trò Trám. Còn rất nhiều những trò và những lời ca khác, nhưng tựu trung tất cả đều nhằm đến đích: gây cười. Chính vì vậy mà có câu:
Cuộc đời vất vả sớm hôm
Đi xem trò Trám đủ ôm miệng cười.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm đầu tiên vào Sài gòn, tôi được anh chở trên chiếc vespa cà tàng đi khắp nơi. Anh đã giúp tôi chuẩn bị tốt cho kỳ thi vào Cao đẳng Mỹ Thuật Sài gòn dù về sau tôi không theo đuổi nghệ thuật hội họa... Kỷ niệm với anh Du Tử Lê tôi không bao giờ quên và chúng tôi thường nhắc lại mỗi khi ngồi uống café rồi cười với nhau
Đến Ai Cập và Jordan, chúng tôi tự sắp xếp chương trình thăm những nơi mình muốn. Qua Do Thái mấy ngày đầu tự lên lịch tham quan, sau đó nhập vào đoàn người đến từ Mỹ và Úc, trong chuyến hành hương do linh mục Dòng Tên Nguyễn Tầm Thường hướng dẫn.
Tướng Khuyên còn ở Sài Gòn đến ngày 28 tháng 4/1975 mới ra đi. Ông đã ra đi trong khi Sài Gòn đang cơn hấp hối vô phương cứu vãn nổi. Tới Mỹ, Ông xuất gia và tu hành lặng lẽ trong một ngôi chùa cũng lặng lẽ ít đồng hương lễ lạc. Kiếm sĩ Đặng Dung ngày xưa cũng sống như vậy
Truyện Thạch Sanh Lý Thông lưu truyền trong dân gian dưới hình thức chuyện kể truyền miệng chắc có đã lâu. Phải hiện hữu trước khi ông Dương Minh Đức đưa bản văn sáng tác của mình sang bên Quảng Đông khắc ván cũng như từng đưa vài chục tác phẩm khác của nhóm nhờ đó miền Nam Kỳ Lục tỉnh có được một số tác phẩm Nôm đáng kể mà người nghiên cứu Nôm thường gọi là Nôm Phật Trấn
Nhật Bản: Người Việt đứng đầu danh sách người ăn cắp đến từ nước ngoài. Năm 2017, khoảng 260 000 người Việt sống tại Nhật Bản, tăng 8 lần so với 2008. Tội phạm trong Cộng Đồng Việt cũng tăng. Thống kê tại Nhật cho thấy năm 2017, số tội phạm gốc Việt là 5140, chiếm hơn 30% tổng số tội phạm
đài phát thanh yêu cầu người dân phải về nhà trước 23 giờ để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ ngày 22.09.1975, đài loan tin về quy định đổi tiền và kéo dài thời gian giới nghiêm đến 11 giờ sáng. Thời gian đổi tiền sẽ bắt đầu vào lúc 11 cho đến 23 giờ cùng ngày, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ để hoàn thành việc thu và đổi tiền
người có danh, có chức mới viết hồi ký khi về già. Tôi chỉ là một nhà giáo bình thường, chẳng có gì to lớn cả, nên chẳng bao giờ nghĩ đến việc tự viết về mình. Tuy nhiên, qua bao năm sống còn, nghĩ lại mình cũng còn những điều đáng nhớ
Trong thời đại ngày càng gia tăng sự bất ổn và bất an trên khắp toàn cầu, lời Phật dạy về bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết nhau ngày phù hợp đối với tất cả những ai muốn thiết lập một thế giới tốt đẹp và hòa bình.
Nhắc đến biến cố 30 tháng 4 năm 1975 thì người Việt sống ở hải ngoại đều bùi ngùi thương cảm khi nhắc đến cái chết oai hùng của 5 vị tướng đã tự tử trong thời gian kể trên. Nay tôi xin góp nhặt tin tức được kể lại từ nhiều người thân cận tướng Nguyễn Khoa Nam về cuộc sống đời thường của ông
Hai bên cách nhau khoảng mười thước, thấy nhau bằng mắt thường, nên, mọi người trên đoàn giang đỉnh đều thấy Việt-Cộng nhốn nháo, tán loạn... địch từ bờ bắn ra dữ dội với đủ loại súng, có cả 82 ly không giật và 12 ly 8. Phía Lực-Lượng 99, vũ khí nặng trên chiến đỉnh đều xử dụng tối đa
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.