Hôm nay,  

Thư Không Gửi

17/06/200600:00:00(Xem: 13286)

Thưa Thầy,

Không biết đây là lá thư thứ mấy, con đã viết mà không bao giờ gửi đi, bởi vì, biết gửi về đâu để tới được tay Thầy"! Những thư trước đã đầy nước mắt, thư này có khô ráo được không"

Chiều nay, quét lá ngoài vườn, con không ngớt nghĩ về con đường hẻm năm xưa, nơi một gia đình người miền Bắc di cư, được xóm người miền Nam đón nhận bằng tất cả ấm áp của tình người. Thầy ơi, con đường hẻm đó, đối với con đã thiêng liêng như con đường đất mấp mô dẫn ra bờ sông Ni Liên Thuyền khi sa-môn Gotama quyết định bỏ lối tu khổ hạnh. Ngài men xuống ven sông tắm gội như một hình thức làm mới lại tư tưởng, nhưng vì quá đuối sức sau nhiều ngày tháng ép xác, Ngài đã ngất xỉu trên đường trở lại khu rừng bên kia sông. May thay, một cô bé trong làng đang bưng mâm phẩm vật vào rừng cúng thần linh đã kịp nhìn thấy ông thầy tu khổ hạnh đó. Cô quỳ xuống dâng sữa. Giây lát, vị sa-môn tỉnh lại và cho cô biết Ngài là thái-tử con vua Tịnh Phạn, đã bỏ cung vàng điện ngọc ra đi tìm đạo.

Câu chuyện tuyệt vời này Thầy đã từng kể cho chúng con nghe nhưng năm xưa ấy, với lứa tuổi lên chín, lên mười, đám trẻ nhỏ trong xóm nghèo đâu có thấy hấp dẫn bằng chuyện Thạch Sanh-Lý Thông, Tấm Cám, Phạm Công-Cúc Hoa ..... với những tình tiết ly kỳ, những thắt mở hồi hộp hơn. Tuy thế, đám thiếu nhi Phật tử chúng con siêng đi chùa lắm vì tới chùa được bác Sáu cho oản chuối, được huynh Thiện Tâm dạy hát, dạy tụng kinh. Riêng hai chị em con, cứ cơm nước buổi tối xong là vào chùa vì chùa gần quá, qua nhà bà Hai bán gạo, nhà ông Năm xích lô, qua vườn rau của cô Bẩy thư ký, tới tiệm chạp phô chú Lìn là nhìn thấy mái chùa. Chùa nghèo lắm, hàng rào gỗ xiêu vẹo đã lâu, huynh Thiện Tâm chắp vá mãi vẫn xiêu vẹo, nói chi đến sơn lại những bờ tường rêu phong, loang lổ. Nhưng đất chùa rộng nên bác Sáu trồng đủ các loại rau, các loại bầu bí làm thực phẩm cho chùa; Rồi không biết do đâu, người trong xóm thấy rau trái nhiều đã tới xin mua lại khi họ cần. Bác Sáu đâu có bán! Bác Sáu bảo, ai cần thì cứ vào mà hái, cửa chùa có đóng bao giờ đâu.

Chùa nghèo, dân trong xóm cũng nghèo nhưng ai vào chùa xin rau trái đều nhẹ nhàng bỏ vào thùng phước sương ít nhiều, tùy theo khả năng mình. Thật thân thương biết bao tình người, nghĩa đạo. Chùa nghèo như thế mà bác Sáu đã bế vào chùa hai đứa bé mồ côi mà cha mẹ chúng bỏ trước sân chùa. Hai đứa bé đó là hai chú tiểu mà bác Sáu gọi tên là Tốt và Lành. Ngày đó, con cũng còn quá nhỏ, đâu có thắc mắc sao hai chú không có pháp danh đẹp đẽ  như Thiện Tâm, Thiện Hữu, Thiện Tường ...... mà lại là Tốt, Lành" Hoặc hai chú cũng có mà con chưa bao giờ nghe " Nhưng chúng con thì được Thầy và bác Sáu gọi bằng pháp danh ngay sau khi quy y. Quy y là gì " Thuở ấy con nào hiểu, chỉ biết rằng, nhằm lễ Vu Lan, huynh Thiện Tâm bảo "Các em quy y với Thầy đi, các em sẽ chính thức là con của Phật, Thầy sẽ cho các em một cái tên mới, như khi cha mẹ sinh con ra đều đặt tên cho các con vậy".

Con biết chị Tư bán xôi có pháp danh là Diệu Hương, chị Chín thợ may có pháp danh là Diệu Liên v... v... nên con nghe lời huynh Thiện Tâm, xin quy y cũng chỉ vì muốn được thầy cho một cái tên đẹp đẽ mà thôi! Ôi, tuổi nhỏ thơ ngây thật là tội lỗi!

Nào phải con chỉ không thắc mắc pháp danh của hai chú tiểu mà pháp danh của Thầy con cũng không hề biết! Bác Sáu là chị, thầy là em. Trong xóm gọi thầy là thầy Bẩy, chúng con cũng chỉ biết thế. Vào chùa chỉ biết vòng tay thưa "Lạy Thầy ạ". Thế thôi!

Sau khi chúng con quy y không bao lâu thì xóm nghèo đó ngập trong biển lửa vì nội chiến giữa lực lượng Bình Xuyên với chính quyền đương thời. Cà xóm đều chạy thoát nhưng tan tác muôn phương. Với bận rộn của tuổi học trò, với những sân ga, những bến đậu, những vui buồn của giòng sông tục lụy, con đã không hề trở lại xóm xưa, không biết Thầy đã đi đâu, về đâu!!!

Nửa thế kỷ đã trôi qua, nửa thế kỷ như một sát-na của kiếp sống, ở phút giây nào kỳ diệu đã bừng lên hai chữ "Diệu Trân" tận thẳm sâu tiềm thức. Khi bỗng chợt nhớ lại pháp danh của mình, con đã bật khóc nức nở, không phải chỉ khóc một lúc mà khóc một đêm, một ngày, nhiều đêm, nhiều ngày. Bất cứ biết có người quen nào về thăm quê hương, con đều nhờ tìm Thầy. Chùa xưa dù đã dựng lại sau hỏa hoạn nhưng Thầy không trụ ở đó nữa.

Chưa tuyệt vọng, con lại nhờ tìm tông tích huynh Thiện Tâm nhưng huynh đã về quê xa xôi làm rẫy! Thầy như bóng chim bay ngang lưng trời, không để lại dấu vết gì, chỉ còn lại trong con hai chữ "Diệu Trân", quằn quại tâm sám hối, không biết phải làm gì để đền đáp ơn Thầy"

Nơi xứ người, con khoác tấm áo lam lên thân tứ đại, tìm đến các chùa, làm công quả, từ xắt bí, gọt khoai, rửa chén bát,  tới lau chùi nhà vệ sinh, quét dọn, đổ rác ...... Con im lặng làm việc mà trong lòng không ngớt nức nở hai tiếng "Thầy ơi!". Con sợ nhất là khi thỉnh thoảng có người bạn đạo vô tình hỏi "Thầy Bổn-sư của Diệu Trân là ai"" hay "Tổ-đình Diệu Trân ở đâu"" con đều không kịp kìm giữ giòng nước mắt rào rạt trôi lăn. Một kẻ tự nhận là Phật tử mà không biết pháp danh của Thầy Bổn-sư, không biết Thầy nơi đâu, Tổ-đình nơi đâu, thì có xứng đáng là con Phật hay không"

Xong những công việc chấp tác, con mon men lên chánh điện, tìm một chỗ ngồi khiêm nhường nhất để được nghe giảng pháp. Giòng-Suối-Từ thầm lặng thẩm thấu vào sa-mạc mênh mông khổ não trong con, tới một ngày con bỗng hiểu rằng Thầy không chỉ là hình bóng Thầy Bẩy trụ trì ngôi chùa trong xóm nghèo mà Thầy còn là thời công-phu-sáng, thời kinh-trưa, thời thiền lặng lẽ khi trăng khuya bàng bạc bên khung cửa sổ. Thầy cũng là lời con phát nguyện khi tụng kinh Pháp-Hoa:

"Con nay phát nguyện rộng

Thọ trì kinh Pháp-Hoa

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam-đồ"

là bài kệ sáng ngời khi con tụng kinh Kim-Cang:

"Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào ảnh

Như lộ diệc như điện

Ưng tác như thị quán"

là bài tán Hội Liên-Trì khi con tụng kinh A-Di-Đà:

"Liên-Trì hải hội

Di Đà Như-Lai

Quan Âm Thế Chí tọa Liên-đài

Tiếp dẫn Thượng-kim-giai

Đại thệ hoằng khai

Phổ nguyện li trần ai"

là phút Quán Không, khi con tụng kinh Bát-Nhã, là Viên-Giác, Lăng-Nghiêm, Đại-Bảo-Đàn...Thầy vẫn ở cùng con trên từng lời Phật dạy. Thầy là người cha đã khai sinh ra con từ một bông hoa đặt nhẹ trên đỉnh đầu trong không gian tưới tẩm hương Vu Lan năm đó. Thầy nào có xa rời con" Thầy nào ngưng dạy dỗ" Chính Thầy đang dắt con tới từng đạo tràng, dạy con biết cách cúng dường, biết cách tu thân, biết nhận ra lỗi lầm, biết nhẫn nhục, biết tha thứ. Sao bấy lâu nay con không nhìn ra mà cứ đau khổ quằn quại "Thầy ơi! Thầy đâu"" trong tâm trạng đứa con lạc cha! Suốt nửa thế kỷ qua, con nào khác chi kẻ cùng tử trong phẩm "Tín Giải", kinh Pháp-Hoa, không nhận ra cha mình dù cha đang ở trước mặt.

Thưa Thầy,

Thầy đã quá từ bi và kiên trì đối với một đệ tử vô minh tột cùng như con. Phải nửa thế kỷ, tấm màn vô minh mới hé cho con chút ánh sáng. Không thể tình cờ người bệnh chợt khỏe, trẻ nhỏ chợt lớn. mà chắc chắn phải có sự chăm sóc, nuôi dưỡng dưới hình thức nào đó.

Đêm qua, ngồi thiền dưới trăng khuya, hương đêm chợt dấy trong hồn con một cảm xúc cực kỳ mãnh liệt. Đó là cảm xúc khi Thầy vẫy nhẹ đóa hoa trên đỉnh đầu con trong mùa Vu Lan năm nào và nói: "Pháp danh con là Diệu Trân". Cảm xúc kỳ diệu đó, mãi đến ngày nay con mới cảm nhận được. Con xin tạ ơn Thầy, Thầy Bổn-sư của con. Trong mầu nhiệm của những điều không thể dẫn giải bằng lý trí, con nay tin chắc rằng Thầy đã không ngừng dạy dỗ con. Ngay cả những người chỉ sống bằng lý trí, tuyệt đối không tin những gì mà họ không nhìn, nghe, sờ mó được, họ đều quên rằng họ có nhìn, nghe, sờ mó được không khí đâu! Nhưng họ đã không thể chối bỏ sự hiện hữu của không khí trong mênh mông vũ trụ này.

Viết thư này cho Thầy, con tưởng rằng sẽ lại khóc tầm tã như những lá-thư không-gửi trước. Nhưng Thầy ơi, con đang nghe được tiếng bầy sẻ lao xao bên bờ tường. Chúng không ríu rít ca ngâm như mấy ông bà thi sỹ tưởng tượng mà chúng đang gọi con, chỉ để xin cơm nguội. Con mang cơm cho chúng hàng ngày, con biết rõ mà. Những cây bưởi đang đơm hoa cũng kêu khát nước, con nghe từng nhánh lá réo gọi dưới nắng hè chói chang; và những bông súng đang kèn cựa, xô đẩy những nụ sen đầu mùa rất thư thả mà vững chãi, nhô lên khỏi mặt nước. Thầy đang dạy con những bài học khó hơn, phải quán tưởng sâu sa hơn, lắng tâm tĩnh lặng hơn, mới giao cảm được sự chia xẻ thân thương cùng vạn hữu quanh ta. Khi nhận được điều đó, ta sẽ không còn cô đơn nữa.

Thưa Thầy,

Từ nay con đã có câu trả lời khi các bạn đạo hỏi:

- Thầy Bổn-sư của Diệu Trân là ai"

- Thưa, Thầy Bổn-sư của tôi là những vị dạy tôi biết nhận ra Phật tánh của mình.

- Tổ-đình của Diệu Trân ở đâu"

- Thưa, Tổ-đình của tôi là nơi Phật Pháp được rao giảng, như tinh thần phẩm "Hiện Bảo Tháp" trong kinh Pháp-Hoa, Phật Đa Bảo đã phát nguyện: "Nơi đâu có vị Phật thuyết kinh Pháp-Hoa, tôi sẽ hiện tháp nơi đó để tán thán".       

Trong không gian thơm ngát hương đạo vị, con cảm nhận rất rõ Thầy vừa dạy con điều ấy.

Con xin quỳ xuống, kính cẩn năm vóc tạ ơn Thầy.

Đệ tử của Thầy

Diệu Trân

(An Cư Kiết Hạ 2006)

- Nói làm sao để làm cho mọi người lắng nghe bạn – Ngụ ngôn: Cái lưỡi của người khôn làm cho kiến thức của mình đưa ra được chấp nhận còn miệng của kẻ ngông cuồng phát ra lời điên dại.
Khi con cái đến tuổi “cập kê,” có bạn trai/bạn gái, con sẽ được mời tới nhà bạn trai/gái để gia đình bên đó biết mặt.
Tác giả là một nhà giáo, nhà báo, nhà hoạt động xã hội quen biết tại Little Saigon. Tới Mỹ theo diện Hát Ô Một từ 1990. Suốt 28 năm qua, ông không ngừng viết văn viết báo tiếng Việt, tiếng Anh. Trong năm qua, có tới 7 cuốn sách mới. Góp sức với Viết Về Nước Mỹ, ông đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ từ những năm đầu, và vẫn tiếp tục thêm bài mới.
Nỗi đau nào bằng nỗi đau mất nước? Tang thương nào hơn khi bị tước mất cửa nhà? Oan trái nào bằng khi nhà cầm quyền gieo họa? Uất hận nào hơn khi tai vạ trắng tay? Lo lắng nào hơn khi giấc ngủ không đầy
Công khai đối thoại với người dân càng sớm càng tốt sau chiến dịch triệt hạ vườn rau Lộc Hưng... cưỡng chế nhà cửa được tiến hành gấp rút, đẩy hàng trăm người dân vào cảnh “vong gia thất thổ” trong khi chỉ còn hơn ba tuần là đến tết cổ truyền của dân tộc
tâm đầu ý hiệp, Kiều được Từ bỏ tiến chuộc ra cất nhà cho ở. Rồi Từ Hải thực hiện chí giang hồ thu thập quân binh, rước Kiều về, Kiều trả ơn trả oán. Hải lúc nầy mang chí lớn quyết kéo quân về đế kinh tập tan cơ đồ đương thối nát, bất lương
hình như chắc chắn Hà Nội sẽ là nơi tổ chức thượng đỉnh Mỹ Triều lần thứ 2... cũng là cơ hội cho ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước CSVN, chủ động quân bình ảnh hưởng của Việt Nam giữa Mỹ và Trung Quốc, hầu tìm lợi thế cho VN trong tranh chấp tại Biển Đông
Vào ngày cuối cùng của năm 2018, Tổng thống Mỹ Donald Trump ký ban hành Đạo Luật Sáng Kiến Tái Bảo Đảm Châu Á (Asia Reassurance Initiative Act - ARIA). Ngay sau đó vào ngày 02/01/2019, bộ Ngoại Giao Trung Quốc lên án Mỹ đã cổ vũ và siết chặt các quan hệ chính trị, an ninh, quân sự bằng luật pháp đối với Đài Loan, hòn đảo mà Bắc Kinh vẫn coi là vùng lãnh thổ ly khai. Bắc Kinh coi đạo luật này đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc «Một nước Trung Quốc», đã can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Trung Quốc, xâm phạm đến «lợi ích cốt lõi» của Trung Quốc, cũng như «tình cảm của nhân dân Trung Quốc». Bắc Kinh một lần nữa kêu gọi Washington không áp dụng các nội dung liên quan đến Đài Loan trong đạo luật ARIA, và xử trí vấn đề Đài Loan một cách thận trọng, để không ảnh hưởng đến «quan hệ Mỹ-Trung nói chung, hòa bình và ổn định hai bên bờ eo biển Đài Loan».
BURNABY, Canada -- Một người gốc Việt hồi hưu đã trúng số khi ông mua vé Lotto 6/49 hồi tháng 12/2018.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.