Hôm nay,  

Khách Trần

21/08/200600:00:00(Xem: 10204)

Khách ghé quán trọ, nghỉ một đêm hay lưu tạm dăm ba bữa, rồi khách cũng đi. Người chủ quán không di chuyển, vẫn ở đó, nhận diện rõ ràng từng người khách đến và đi. Người chủ quán rất bình an, thanh thản như thế, trước khi khách đến cũng như sau khi khách đi. Người khách này ra đi, có thể, người khách khác lại ghé, rồi cũng lại đi. Chủ quán chẳng vì người trước hay kẻ sau mà di chuyển.

Hạnh phúc hay đau khổ, giầu nghèo hay sang hèn đều là khách trần, đến rồi đi.

Bản Tâm ta là chủ quán, trụ trong an tịnh, không đến cũng không đi.

Khách trần đến rồi đi là sinh diệt.

Bản Tâm không xao động, không di chuyển là thường hằng.

 Tự thể của tâm là Không Tánh. Đó là tự tánh Bát Nhã, không trong không ngoài, không nhơ không sạch, không thêm không bớt ... Chỉ có giòng tương tục của tâm, khi xúc cảnh, khởi phân biệt mà bị nhận diện là có nhiễm ô phiền não hay không mà thôi. Khi tâm đạt được thể Không Tánh, tức là trụ được trong bản chất đích thực thì phiền não thế gian sẽ chỉ như những khách trần, như những hạt bụi luôn xô đẩy nhau, lao xao biến hoại trong hư không mà chẳng hề khiến hư không giao động.

Lý thì như thế nhưng thực tế không hẳn hoàn toàn là thế. Khi học đạo, chúng ta thường được quý minh sư nhắc nhở phải giữ ý buông lời, nắm lấy chủ ý để khi thực hành, khi va chạm, biết tùy cảnh huống mà quán xét, chớ như ngài Huệ Khả, vì chấp văn tự mà uổng phí bao năm đi tìm sự an tâm cho đến ngày gặp Tổ Đạt Ma mới chứng ngộ.

Cũng thế, chẳng phải trước mọi cảnh huống tâm đều biểu lộ tự tại mới là tâm trụ nơi Không Tánh. Trong Đại Trí Độ nói rằng Bồ Tát Thường Đề thực hành Đại Bi Tâm, tu tập Bát Nhã Ba La Mật rất thuần nhuyễn, uyên áo, nhưng nhìn thấy chúng sanh quá trầm thống trong biển khổ nên đôi mắt ngài lúc nào cũng đẫm lệ. Lệ này chắc chắn không phải lệ bi thương ủy mỵ nên lệ này chẳng thể làm xao động tâm an trụ. Lệ này khởi từ lòng bi mẫn chỉ khiến Bồ Tát xả thân nhiều hơn.

Với tâm thế nhân thì ý niệm yêu thương thường hạn hẹp, vị kỷ. Khi yêu thương ai, ta phải được đáp lại, được gần gũi mới là hạnh phúc trọn vẹn. Nhưng tình yêu của Đức Thế Tôn thì khác. Thế Tôn yêu thương mọi người mọi loài bình đẳng nên suốt bốn mươi chín năm trên đường hoằng hóa, Thế Tôn đã độ cho bất cứ ai mà ngài có thể độ, từ em bé chăn trâu, người gánh phân, tên sát nhân cho tới hàng vua chúa, vương tôn công tử. Bước chân Thế Tôn tới đâu là quà tặng an lạc được trao tới đó. Kẻ nhận quà, nếu biết thụ hưởng thì dù Thế Tôn còn đó hay đi xa, quà tặng đã trở thành gia tài của người nhận.

Điều này thể hiện rất rõ trước phút Thế Tôn nhập Niết Bàn. Giữa rừng cây sa-la đầy hoa trắng, Thế Tôn đã ân cần nói với các đệ tử thân yêu quanh ngài rằng “Sau khi ta diệt độ thì Pháp và Luật mà ta để lại chính là ta, là đạo sư của các con. Tuân hành và tu tập theo Pháp và Luật đó chính là các con vẫn luôn ở gần ta, là ta không từng rời xa các con”.

Nghe những lời dặn dò đó, tôn giả Anan cũng phải nín bặt khi đang úp mặt vào thân cây, nức nở khóc. Nhưng sự nín bặt đó cũng chỉ là hình thức ngưng lệ chảy mà thôi chứ đâu thể ngưng được lòng buồn khổ. Chẳng phải riêng ngài Anan mà hầu hết những đại đệ tử của Phật đều không thể dễ dàng chấp nhận sự bình thản khi Thế Tôn ra đi, dù trên lý, các ngài đều đã hiểu rất rõ lời Thế Tôn căn dặn.

Lòng hoài vọng nhớ thương Tôn-sư đã lồng vào Pháp và Luật,  nên suốt thời gian dài sau đó, Tăng đoàn tuy vẫn học, vẫn tu mà vẫn âm thầm buồn bã, vì sự thiếu vắng hình bóng vị Thầy tột cùng tôn quý, là khoảng trống chẳng một ai có thể thay thế được.

 Những đại đệ tử, những tỳ-kheo được thân cận và học hỏi trực tiếp từ Đức Phật mà còn khó ngăn cảm xúc như thế, huống chi  chúng ta, hàng hậu duệ vô minh cách xa Phật gần hai ngàn sáu trăm năm, tất nhiên còn yếu đuối tới đâu ! Điều quan trọng là khi ta biết ta yếu thì hãy nhắm mắt, thở thật sâu, niệm hồng danh Đức Thế Tôn, xin Từ Phụ truyền năng lượng để ta trở về được chánh niệm. Đừng nản lòng vì những lời trách cứ thiếu từ bi của thế nhân như “Phật dạy mọi sự vô thường, sao lại bi lụy ở những cái vô thường vậy"” hoặc những câu hỏi thiếu thiện chí tìm cầu mà chỉ nặng phần gay gắt như “ Quý vị được dạy là bản- thể-Như-Lai vốn thanh tịnh, sao còn phải tu để được thanh tịnh "”

Chúng ta phải tập quen với tâm thế gian này, để nhẹ nhàng phân giải rằng, bản-thể-Như-Lai quả là vốn thanh tịnh nhưng vì bị vô minh che lấp, duyên theo huân tập vô minh mà sanh ra hiện tượng khổ đau phiền não.

Đó là trạng thái bản thể duyên ra hiện tượng.

Chúng sanh luôn ở trong trạng thái  này nên chúng sanh cần phải nỗ lực tu, vận dụng Tăng, Thượng, Huệ để đối trị tà kiến, ái dục, ngã mạn mà trở về bản thể trong sáng của mình. Thành Phật là chuyển hóa trí tuệ, đạt tới vô thượng Bồ-Đề và giữ được tâm này thường hằng, không hề đứt đoạn.

Có lẽ Đức Phật là vị giáo chủ duy nhất không nhận mình là giáo chủ, là thánh, là thần, là cao tột, khác biệt với mọi người. Ngài chỉ nhận là mình đã thấy được lẽ vô thường, đã nhận ra bản chất đích thực cao quý trong mỗi tấm thân tứ đại vô thường, đã tìm ra cai ngục tên là Vô Minh, hằng nhốt chúng sanh trong luân hồi tăm tối. Ngài chỉ là người thấy trước nên ân cần chỉ dạy lại cho những ai muốn thoát khỏi quỹ đạo khổ đau này. Những ai TIN lời ngài, NGUYỆN theo đường ngài đi, PHỤNG sự tuân thủ những pháp môn ngài chỉ và HÀNH trì nghiêm chỉnh những gì học hỏi được thì người đó cũng bình đẳng với ngài. Ngài là Phật thì người đó cũng là Phật.

Lời ngài nói trung thực và đơn giản thế thôi.

 Gần hai ngàn sáu trăm năm, Đức Phật đã là ông chủ quán nhìn tường tận nhất, những khách trần đến rồi đi, sinh rồi hoại. Ông chủ quán chưa hề rời quán vì ông thường hằng hiển hiện sáng ngời qua Pháp và Luật ông để lại.

Lành thay, những khách trần sớm biết mình là bụi để kịp dừng lại lao  xao mà tĩnh lặng với hư không trong vô sanh bất diệt.

Đó chính là những chúng sanh đã giác ngộ nên chuyển hóa được thân phận Khách Trần của mình để trở thành Chủ Quán.  

Tôi không nhớ mấy câu thơ không đầu không cuối này từ đâu, do vị nào viết, nhưng chính cái chất liệu lơ lửng này lại khiến ý thơ tràn đầy bát ngát. Xin tác giả cho phép ghi lại đây, thay búp tay sen để được dừng bút:

“Tâm sầu lắm ư"

Thôi đi nhị kiến,

Chẳng còn ba, tư

Trên con đường thật

Người về với NHƯ.”

Diệu Trân

(Như-Thị-Am, tháng tám, 2006)      

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từ mùa xuân năm rồi tới nay, Paris hãy còn sôi nổi vụ Tộc kinh ở Bussy Saint Georges, thành phố ngoại ô phía Đông, cách Paris lối 45 km. Một nhóm người Việt nam cùng với vài người Tàu gốc Chợ lớn, Miên và Lèo, tất cả đều bỏ chạy bán mạng tìm đường qua Pháp xin tỵ nạn cộng sản sau khi 3 xứ Đông dương cũ bị cộng sản cưỡng chiếm, nay họ rước một nhóm Tàu qua Pháp, giới thiệu mua đất vừa kinh doanh, vừa tổ chức hoạt động văn hóa chánh trị phục chỉ nhằm vụ quyền lợi của Tàu.
Đúng là Việt Nam hưởng lợi từ hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều... nhưng có đúng là Trump về Mỹ và cảm ơn cũng như ca ngợi chính phủ Việt Nam. Không than phiền gì chăng?
Trang Thời Trang & Thẩm Mỹ Việt Báo xin mời các bạn đọc đóng góp thêm hình ảnh các loại: Hình học nghề, hành nghề, tự trang điểm, diện quần áo đẹp, v.v… Hình, bài, thắc mắc thẩm mỹ xin vui lòng gởi về địa chỉ tòa soạn VB: [email protected], hay email [email protected]
Ở Hoa Kỳ, phụ nữ có chiều cao từ 5”4 trở xuống được coi là “nhỏ con”. Có rất nhiều quần áo may kích cỡ “petite” dành cho người nhỏ con. Tuy nhiên, khi bạn chọn chiếc quần có cỡ thật nhỏ để mặc vừa vặn thì có thể chiếc áo khoác ngoài, hay áo may cắt kiểu “taylor” có thể mặc không vừa. Vì vậy, hãy mặc thử quần áo cỡ nhỏ thật cẩn thận.
Em hỏi hơi “ngu” tí chị ơi, mình dùng má hồng trước, hay sau khi dùng phấn ướt (foundation) vậy chị?.
Chị Diệu có nhóm bạn thân trên một diễn đàn. Thư này là họ liên lạc với nhau. “Hổm nay quận Cam (Orange County) được mấy trận mưa dầm, cả đêm cả ngày luôn. Dự báo thời tiết cho hay sẽ mưa cho tới thứ sáu, ngưng một hai ngày rồi lại mưa tiếp, dẫn luôn cho gần hết tháng hai, mừng quá. Tiểu bang California luôn cần nước mờ. Cầu cho ao hồ sông gì cũng đầy lên cho dân nhờ. Cây cối khỏi cần tưới nước, sẽ đâm chồi nảy lộc, bãi cỏ trước nhà sẽ xanh tươi cho mà coi.”
Tác giả quê gốc Kinh 5 Rạch Giá, hiện là cư dân Seattle, dự Viết Về Nước Mỹ từ năm 2010. Ba bài đã viết là chuyện 30 năm của gia đình bà: Vượt biển tới đảo tị nạn, sau 7 năm chờ đợi, bị buộc phải hồi hương. Nhờ chương trình ROV, gia đình vẫn tới được nước Mỹ, và với sức phấn đấu chung, tất cả đã đứng vững.
Viết, nhân đọc một tin… tức mình -- Huế là xứ thơ. Có lẽ do các yếu tố lịch sử, phong cảnh và nếp sống, vùng đất sông Hương núi Ngự là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ – cả nổi tiếng lẫn khét tiếng. Nếu kể hết tên, chắc chắn sẽ thiếu sót.
Hôm nay là ngày giỗ mẹ tôi, tính theo ngày âm lịch. Hai mươi ba năm trước từ California bay về Tuy Hòa, ngồi bên cạnh chứng kiến người thân yêu nhất từ từ ra đi; cảm tưởng mất mát đó không bao giờ quên.
Có những bao tải nặng cả tạ, vai chưa đủ khỏe, các chị phải dùng tay chống ở hông cho đủ lực. Nhiều người đàn ông nhìn thấy cũng phải nể phục. Hầu hết các chị em ở đây đến từ các tỉnh Nam Định, Yên Bái, Phú Thọ, Hưng Yên...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.