Hôm nay,  

Khách Trần

21/08/200600:00:00(Xem: 10380)

Khách ghé quán trọ, nghỉ một đêm hay lưu tạm dăm ba bữa, rồi khách cũng đi. Người chủ quán không di chuyển, vẫn ở đó, nhận diện rõ ràng từng người khách đến và đi. Người chủ quán rất bình an, thanh thản như thế, trước khi khách đến cũng như sau khi khách đi. Người khách này ra đi, có thể, người khách khác lại ghé, rồi cũng lại đi. Chủ quán chẳng vì người trước hay kẻ sau mà di chuyển.

Hạnh phúc hay đau khổ, giầu nghèo hay sang hèn đều là khách trần, đến rồi đi.

Bản Tâm ta là chủ quán, trụ trong an tịnh, không đến cũng không đi.

Khách trần đến rồi đi là sinh diệt.

Bản Tâm không xao động, không di chuyển là thường hằng.

 Tự thể của tâm là Không Tánh. Đó là tự tánh Bát Nhã, không trong không ngoài, không nhơ không sạch, không thêm không bớt ... Chỉ có giòng tương tục của tâm, khi xúc cảnh, khởi phân biệt mà bị nhận diện là có nhiễm ô phiền não hay không mà thôi. Khi tâm đạt được thể Không Tánh, tức là trụ được trong bản chất đích thực thì phiền não thế gian sẽ chỉ như những khách trần, như những hạt bụi luôn xô đẩy nhau, lao xao biến hoại trong hư không mà chẳng hề khiến hư không giao động.

Lý thì như thế nhưng thực tế không hẳn hoàn toàn là thế. Khi học đạo, chúng ta thường được quý minh sư nhắc nhở phải giữ ý buông lời, nắm lấy chủ ý để khi thực hành, khi va chạm, biết tùy cảnh huống mà quán xét, chớ như ngài Huệ Khả, vì chấp văn tự mà uổng phí bao năm đi tìm sự an tâm cho đến ngày gặp Tổ Đạt Ma mới chứng ngộ.

Cũng thế, chẳng phải trước mọi cảnh huống tâm đều biểu lộ tự tại mới là tâm trụ nơi Không Tánh. Trong Đại Trí Độ nói rằng Bồ Tát Thường Đề thực hành Đại Bi Tâm, tu tập Bát Nhã Ba La Mật rất thuần nhuyễn, uyên áo, nhưng nhìn thấy chúng sanh quá trầm thống trong biển khổ nên đôi mắt ngài lúc nào cũng đẫm lệ. Lệ này chắc chắn không phải lệ bi thương ủy mỵ nên lệ này chẳng thể làm xao động tâm an trụ. Lệ này khởi từ lòng bi mẫn chỉ khiến Bồ Tát xả thân nhiều hơn.

Với tâm thế nhân thì ý niệm yêu thương thường hạn hẹp, vị kỷ. Khi yêu thương ai, ta phải được đáp lại, được gần gũi mới là hạnh phúc trọn vẹn. Nhưng tình yêu của Đức Thế Tôn thì khác. Thế Tôn yêu thương mọi người mọi loài bình đẳng nên suốt bốn mươi chín năm trên đường hoằng hóa, Thế Tôn đã độ cho bất cứ ai mà ngài có thể độ, từ em bé chăn trâu, người gánh phân, tên sát nhân cho tới hàng vua chúa, vương tôn công tử. Bước chân Thế Tôn tới đâu là quà tặng an lạc được trao tới đó. Kẻ nhận quà, nếu biết thụ hưởng thì dù Thế Tôn còn đó hay đi xa, quà tặng đã trở thành gia tài của người nhận.

Điều này thể hiện rất rõ trước phút Thế Tôn nhập Niết Bàn. Giữa rừng cây sa-la đầy hoa trắng, Thế Tôn đã ân cần nói với các đệ tử thân yêu quanh ngài rằng “Sau khi ta diệt độ thì Pháp và Luật mà ta để lại chính là ta, là đạo sư của các con. Tuân hành và tu tập theo Pháp và Luật đó chính là các con vẫn luôn ở gần ta, là ta không từng rời xa các con”.

Nghe những lời dặn dò đó, tôn giả Anan cũng phải nín bặt khi đang úp mặt vào thân cây, nức nở khóc. Nhưng sự nín bặt đó cũng chỉ là hình thức ngưng lệ chảy mà thôi chứ đâu thể ngưng được lòng buồn khổ. Chẳng phải riêng ngài Anan mà hầu hết những đại đệ tử của Phật đều không thể dễ dàng chấp nhận sự bình thản khi Thế Tôn ra đi, dù trên lý, các ngài đều đã hiểu rất rõ lời Thế Tôn căn dặn.

Lòng hoài vọng nhớ thương Tôn-sư đã lồng vào Pháp và Luật,  nên suốt thời gian dài sau đó, Tăng đoàn tuy vẫn học, vẫn tu mà vẫn âm thầm buồn bã, vì sự thiếu vắng hình bóng vị Thầy tột cùng tôn quý, là khoảng trống chẳng một ai có thể thay thế được.

 Những đại đệ tử, những tỳ-kheo được thân cận và học hỏi trực tiếp từ Đức Phật mà còn khó ngăn cảm xúc như thế, huống chi  chúng ta, hàng hậu duệ vô minh cách xa Phật gần hai ngàn sáu trăm năm, tất nhiên còn yếu đuối tới đâu ! Điều quan trọng là khi ta biết ta yếu thì hãy nhắm mắt, thở thật sâu, niệm hồng danh Đức Thế Tôn, xin Từ Phụ truyền năng lượng để ta trở về được chánh niệm. Đừng nản lòng vì những lời trách cứ thiếu từ bi của thế nhân như “Phật dạy mọi sự vô thường, sao lại bi lụy ở những cái vô thường vậy"” hoặc những câu hỏi thiếu thiện chí tìm cầu mà chỉ nặng phần gay gắt như “ Quý vị được dạy là bản- thể-Như-Lai vốn thanh tịnh, sao còn phải tu để được thanh tịnh "”

Chúng ta phải tập quen với tâm thế gian này, để nhẹ nhàng phân giải rằng, bản-thể-Như-Lai quả là vốn thanh tịnh nhưng vì bị vô minh che lấp, duyên theo huân tập vô minh mà sanh ra hiện tượng khổ đau phiền não.

Đó là trạng thái bản thể duyên ra hiện tượng.

Chúng sanh luôn ở trong trạng thái  này nên chúng sanh cần phải nỗ lực tu, vận dụng Tăng, Thượng, Huệ để đối trị tà kiến, ái dục, ngã mạn mà trở về bản thể trong sáng của mình. Thành Phật là chuyển hóa trí tuệ, đạt tới vô thượng Bồ-Đề và giữ được tâm này thường hằng, không hề đứt đoạn.

Có lẽ Đức Phật là vị giáo chủ duy nhất không nhận mình là giáo chủ, là thánh, là thần, là cao tột, khác biệt với mọi người. Ngài chỉ nhận là mình đã thấy được lẽ vô thường, đã nhận ra bản chất đích thực cao quý trong mỗi tấm thân tứ đại vô thường, đã tìm ra cai ngục tên là Vô Minh, hằng nhốt chúng sanh trong luân hồi tăm tối. Ngài chỉ là người thấy trước nên ân cần chỉ dạy lại cho những ai muốn thoát khỏi quỹ đạo khổ đau này. Những ai TIN lời ngài, NGUYỆN theo đường ngài đi, PHỤNG sự tuân thủ những pháp môn ngài chỉ và HÀNH trì nghiêm chỉnh những gì học hỏi được thì người đó cũng bình đẳng với ngài. Ngài là Phật thì người đó cũng là Phật.

Lời ngài nói trung thực và đơn giản thế thôi.

 Gần hai ngàn sáu trăm năm, Đức Phật đã là ông chủ quán nhìn tường tận nhất, những khách trần đến rồi đi, sinh rồi hoại. Ông chủ quán chưa hề rời quán vì ông thường hằng hiển hiện sáng ngời qua Pháp và Luật ông để lại.

Lành thay, những khách trần sớm biết mình là bụi để kịp dừng lại lao  xao mà tĩnh lặng với hư không trong vô sanh bất diệt.

Đó chính là những chúng sanh đã giác ngộ nên chuyển hóa được thân phận Khách Trần của mình để trở thành Chủ Quán.  

Tôi không nhớ mấy câu thơ không đầu không cuối này từ đâu, do vị nào viết, nhưng chính cái chất liệu lơ lửng này lại khiến ý thơ tràn đầy bát ngát. Xin tác giả cho phép ghi lại đây, thay búp tay sen để được dừng bút:

“Tâm sầu lắm ư"

Thôi đi nhị kiến,

Chẳng còn ba, tư

Trên con đường thật

Người về với NHƯ.”

Diệu Trân

(Như-Thị-Am, tháng tám, 2006)      

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
SAIGON -- Vừa qua, sau khi UBND TP đồng ý cho tháo dỡ tòa nhà lô E chung cư 518 Võ Văn Kiệt (phường Cầu Kho, Q.1) để xây lại hoàn toàn, UBND quận 1 cho biết sẽ làm việc với người dân ở lô này nhằm tạo sự đồng thuận về chủ trương tháo dỡ chung cư rồi mới tổ chức đấu thầu, theo tin của trang 24H.
Sau 10 năm đàm phán, phía Mỹ đã chấp thuận cho xoài Việt Nam chính thức nhập cảng vào thị trường này và cơ quan chức năng của Việt Nam cũng đã chính thức cấp phép xuất cảng xoài sang thị trường Mỹ. Theo đó, Mỹ trở thành thị trường xuất cảng thứ 40 của xoài Việt Nam, theo Người Lao Động (NLĐO).
Westminster (Bình Sa)- - Vào lúc 3 giờ chiều Thứ Hai ngày 18 tháng 2 năm 2019, Hội Từ Thiện “Trái Tim Dâng Cho Đời” do Hoa Hậu Thân Thiện Á Mỹ Huỳnh Nga làm Hội Trưởng đến từ Alaka đã hướng dẫn phái đoàn gồm có: Ni Sư Thích Nữ Như Như, Đại diện Hội Từ Thiện Trái Tim Dâng Cho Đời tại Miền Nam California, Mục Sư David Huỳnh Trưởng ban văn nghệ (Tình Yêu Vô Biên Giới) Hoa Hậu Kathy Phạm, Hoa Hậu Tâm Nguyễn cùng một số anh chị em trong hội và các nghệ sĩ thân hữu đã đến khu dưỡng lão Mission Palms số 240 Hospital Cirle, Thành phố Westminster, để thăm viếng, phát qùa và trình diễn văn nghệ giúp vui cho những cụ cao niên đang dưỡng bệnh tại đây.
Các bạn thân mến, Bảo Ngọc rất lấy làm hãnh diện và vui mừng với sự đóng góp của thiếu nhi chúng ta vào hội chợ Tết Tết Sinh Viên năm nay.
Ra Tết rồi, vẫn còn trong mùa đông nên trời lạn (lạnh) lắm. Tuy vật, cây cối vẫn bắt đầu đâm chồi nên đường phố, vườn nhà đã có màu xanh.
Đêm qua em có một giấc mơ Giấc mơ dài lắm Em chỉ nhớ một đoạn ngắn Là em đi chơi xa Ở đâu em không biết!
Bé Tịnh Như thật dễ thương trong tà áo màu hoa cà xứ Huế với màn trình diễn áo dài ba miền tại Hội Tet Festival, Kỷ Hợi 2019.
Ngoài phố dĩ nhiên là đầy nỗi lo, đủ thứ chuyện bắt cóc, đụng xe, bạo hành... nhưng trong trường học cũng nguy ngập đủ thứ.
Ngày xưa có một hoàng tử bị mụ phù thủy giam vào hộp sắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Một hôm, công chúa nước láng giềng vào rừng chơi và bị lạc. Công chúa nhìn thấy chiếc hộp và nghe tiếng nói từ trong hộp cho biết nếu công chúa nhận người trong hộp làm chồng thì sẽ được chỉ dẫn đường về hoàng cung. Công chúa bằng lòng và được chỉ dẫn về nhà nhưng không chịu giữ lời hứa trở lại cứu người trong hộp. Vua cha hai lần cử người đi thay công chúa đều bị phát giác và sau cùng chính công chúa phải đi vì nếu không, hoàng cung sẽ bị sụp đổ tan nát. Khi công chúa tới gõ và nạy chiếc hộp sắt thì một thiếu niên đẹp đẽ đi ra và công chúa phải giữ lời hứa lấy chàng vì chàng cũng là một hoàng tử. Công chúa xin chàng trước khi làm đám cưới, cho nàng trở về để thăm cha mẹ. Hoàng tử bằng lòng nhưng dặn công chúa gặp cha mẹ chỉ nói ba câu rồi trở lại ngay với chàng...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.