Hôm nay,  

Khách Trần

21/08/200600:00:00(Xem: 10377)

Khách ghé quán trọ, nghỉ một đêm hay lưu tạm dăm ba bữa, rồi khách cũng đi. Người chủ quán không di chuyển, vẫn ở đó, nhận diện rõ ràng từng người khách đến và đi. Người chủ quán rất bình an, thanh thản như thế, trước khi khách đến cũng như sau khi khách đi. Người khách này ra đi, có thể, người khách khác lại ghé, rồi cũng lại đi. Chủ quán chẳng vì người trước hay kẻ sau mà di chuyển.

Hạnh phúc hay đau khổ, giầu nghèo hay sang hèn đều là khách trần, đến rồi đi.

Bản Tâm ta là chủ quán, trụ trong an tịnh, không đến cũng không đi.

Khách trần đến rồi đi là sinh diệt.

Bản Tâm không xao động, không di chuyển là thường hằng.

 Tự thể của tâm là Không Tánh. Đó là tự tánh Bát Nhã, không trong không ngoài, không nhơ không sạch, không thêm không bớt ... Chỉ có giòng tương tục của tâm, khi xúc cảnh, khởi phân biệt mà bị nhận diện là có nhiễm ô phiền não hay không mà thôi. Khi tâm đạt được thể Không Tánh, tức là trụ được trong bản chất đích thực thì phiền não thế gian sẽ chỉ như những khách trần, như những hạt bụi luôn xô đẩy nhau, lao xao biến hoại trong hư không mà chẳng hề khiến hư không giao động.

Lý thì như thế nhưng thực tế không hẳn hoàn toàn là thế. Khi học đạo, chúng ta thường được quý minh sư nhắc nhở phải giữ ý buông lời, nắm lấy chủ ý để khi thực hành, khi va chạm, biết tùy cảnh huống mà quán xét, chớ như ngài Huệ Khả, vì chấp văn tự mà uổng phí bao năm đi tìm sự an tâm cho đến ngày gặp Tổ Đạt Ma mới chứng ngộ.

Cũng thế, chẳng phải trước mọi cảnh huống tâm đều biểu lộ tự tại mới là tâm trụ nơi Không Tánh. Trong Đại Trí Độ nói rằng Bồ Tát Thường Đề thực hành Đại Bi Tâm, tu tập Bát Nhã Ba La Mật rất thuần nhuyễn, uyên áo, nhưng nhìn thấy chúng sanh quá trầm thống trong biển khổ nên đôi mắt ngài lúc nào cũng đẫm lệ. Lệ này chắc chắn không phải lệ bi thương ủy mỵ nên lệ này chẳng thể làm xao động tâm an trụ. Lệ này khởi từ lòng bi mẫn chỉ khiến Bồ Tát xả thân nhiều hơn.

Với tâm thế nhân thì ý niệm yêu thương thường hạn hẹp, vị kỷ. Khi yêu thương ai, ta phải được đáp lại, được gần gũi mới là hạnh phúc trọn vẹn. Nhưng tình yêu của Đức Thế Tôn thì khác. Thế Tôn yêu thương mọi người mọi loài bình đẳng nên suốt bốn mươi chín năm trên đường hoằng hóa, Thế Tôn đã độ cho bất cứ ai mà ngài có thể độ, từ em bé chăn trâu, người gánh phân, tên sát nhân cho tới hàng vua chúa, vương tôn công tử. Bước chân Thế Tôn tới đâu là quà tặng an lạc được trao tới đó. Kẻ nhận quà, nếu biết thụ hưởng thì dù Thế Tôn còn đó hay đi xa, quà tặng đã trở thành gia tài của người nhận.

Điều này thể hiện rất rõ trước phút Thế Tôn nhập Niết Bàn. Giữa rừng cây sa-la đầy hoa trắng, Thế Tôn đã ân cần nói với các đệ tử thân yêu quanh ngài rằng “Sau khi ta diệt độ thì Pháp và Luật mà ta để lại chính là ta, là đạo sư của các con. Tuân hành và tu tập theo Pháp và Luật đó chính là các con vẫn luôn ở gần ta, là ta không từng rời xa các con”.

Nghe những lời dặn dò đó, tôn giả Anan cũng phải nín bặt khi đang úp mặt vào thân cây, nức nở khóc. Nhưng sự nín bặt đó cũng chỉ là hình thức ngưng lệ chảy mà thôi chứ đâu thể ngưng được lòng buồn khổ. Chẳng phải riêng ngài Anan mà hầu hết những đại đệ tử của Phật đều không thể dễ dàng chấp nhận sự bình thản khi Thế Tôn ra đi, dù trên lý, các ngài đều đã hiểu rất rõ lời Thế Tôn căn dặn.

Lòng hoài vọng nhớ thương Tôn-sư đã lồng vào Pháp và Luật,  nên suốt thời gian dài sau đó, Tăng đoàn tuy vẫn học, vẫn tu mà vẫn âm thầm buồn bã, vì sự thiếu vắng hình bóng vị Thầy tột cùng tôn quý, là khoảng trống chẳng một ai có thể thay thế được.

 Những đại đệ tử, những tỳ-kheo được thân cận và học hỏi trực tiếp từ Đức Phật mà còn khó ngăn cảm xúc như thế, huống chi  chúng ta, hàng hậu duệ vô minh cách xa Phật gần hai ngàn sáu trăm năm, tất nhiên còn yếu đuối tới đâu ! Điều quan trọng là khi ta biết ta yếu thì hãy nhắm mắt, thở thật sâu, niệm hồng danh Đức Thế Tôn, xin Từ Phụ truyền năng lượng để ta trở về được chánh niệm. Đừng nản lòng vì những lời trách cứ thiếu từ bi của thế nhân như “Phật dạy mọi sự vô thường, sao lại bi lụy ở những cái vô thường vậy"” hoặc những câu hỏi thiếu thiện chí tìm cầu mà chỉ nặng phần gay gắt như “ Quý vị được dạy là bản- thể-Như-Lai vốn thanh tịnh, sao còn phải tu để được thanh tịnh "”

Chúng ta phải tập quen với tâm thế gian này, để nhẹ nhàng phân giải rằng, bản-thể-Như-Lai quả là vốn thanh tịnh nhưng vì bị vô minh che lấp, duyên theo huân tập vô minh mà sanh ra hiện tượng khổ đau phiền não.

Đó là trạng thái bản thể duyên ra hiện tượng.

Chúng sanh luôn ở trong trạng thái  này nên chúng sanh cần phải nỗ lực tu, vận dụng Tăng, Thượng, Huệ để đối trị tà kiến, ái dục, ngã mạn mà trở về bản thể trong sáng của mình. Thành Phật là chuyển hóa trí tuệ, đạt tới vô thượng Bồ-Đề và giữ được tâm này thường hằng, không hề đứt đoạn.

Có lẽ Đức Phật là vị giáo chủ duy nhất không nhận mình là giáo chủ, là thánh, là thần, là cao tột, khác biệt với mọi người. Ngài chỉ nhận là mình đã thấy được lẽ vô thường, đã nhận ra bản chất đích thực cao quý trong mỗi tấm thân tứ đại vô thường, đã tìm ra cai ngục tên là Vô Minh, hằng nhốt chúng sanh trong luân hồi tăm tối. Ngài chỉ là người thấy trước nên ân cần chỉ dạy lại cho những ai muốn thoát khỏi quỹ đạo khổ đau này. Những ai TIN lời ngài, NGUYỆN theo đường ngài đi, PHỤNG sự tuân thủ những pháp môn ngài chỉ và HÀNH trì nghiêm chỉnh những gì học hỏi được thì người đó cũng bình đẳng với ngài. Ngài là Phật thì người đó cũng là Phật.

Lời ngài nói trung thực và đơn giản thế thôi.

 Gần hai ngàn sáu trăm năm, Đức Phật đã là ông chủ quán nhìn tường tận nhất, những khách trần đến rồi đi, sinh rồi hoại. Ông chủ quán chưa hề rời quán vì ông thường hằng hiển hiện sáng ngời qua Pháp và Luật ông để lại.

Lành thay, những khách trần sớm biết mình là bụi để kịp dừng lại lao  xao mà tĩnh lặng với hư không trong vô sanh bất diệt.

Đó chính là những chúng sanh đã giác ngộ nên chuyển hóa được thân phận Khách Trần của mình để trở thành Chủ Quán.  

Tôi không nhớ mấy câu thơ không đầu không cuối này từ đâu, do vị nào viết, nhưng chính cái chất liệu lơ lửng này lại khiến ý thơ tràn đầy bát ngát. Xin tác giả cho phép ghi lại đây, thay búp tay sen để được dừng bút:

“Tâm sầu lắm ư"

Thôi đi nhị kiến,

Chẳng còn ba, tư

Trên con đường thật

Người về với NHƯ.”

Diệu Trân

(Như-Thị-Am, tháng tám, 2006)      

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong chuyến đi tìm Vết Chân Đức Phật bên Trung Quốc, tôi đến thành phố Quê Lâm, một thành phố du lịch nổi tiếng Trung Quốc. Dân số trong thành phố hai triệu nhưng mổi năm nghênh đoán khỏan 5 triệu du khách. Thành phố có nhiều công viên và thắng cảnh dộc sông Li đầy quyến rủ.
Không, không phải tôi muốn nói về những địa danh tại Việt Nam. Hội An và Chợ Nổi Cái Răng là hai cái Tết mà tôi đã tham dự. Hai cái tết lấy tên hai địa danh, được tổ chức tại Thảo Sơn Trà, đó là căn nhà đầy tiếng cười của bạn tôi: Michelle Thảo và anh Trần Sơn Vương.
Có người mẹ nào nhẫn tâm đẩy cả bầy con cái tha phương cầu thực, và khốn nạn đến nỗi mong chúng mang được cả “thế giới về” nhà. Tôi không tin ông Phúc hoàn toàn không biết gì về hiện trạng thê thảm hiện nay của tuổi trẻ VN. Ông ấy chỉ tự dối mình, và dối người cho qua nhiệm kỳ thôi
kính gửi TT Donald Trump nhân cuộc họp thượng đỉnh Mỹ-Bắc Hàn tại Hà nội ngày 27-28 tháng 2 năm 2019 - nhà cầm quyền nước CHXHCN Việt Nam vẫn áp đặt một thể chế độc tài, toàn trị, một chế độ mà Tổng Thống thường tuyên bố cần phải loại bỏ trên thế giới nhự ở nước Venezuela.
Trần Độ bị khai trừ ra khỏi đảng vì ông đã yêu cầu đảng hãy bỏ Chủ Nghĩa Xã Hội, mà thành lập một cơ chế dân chủ thật sự. Tang lễ bị kiểm soát chặt chẽ. Công an có mặt bên trong và bên ngoài nhà quàn.
Đời sinh viên vốn rất khó khăn và vất vả, thế mà Giáng Thu lại phải theo học một ngành mà nàng không thích. Riêng Lệ Chi – em của Giáng Thu – rất bằng lòng với cuộc sống hiện tại; vì, sau những dằng co dữ dội giữa Mẹ và nàng, nàng đã theo học phân khoa nàng thích
Phỏng vấnCựu Đại Sứ Bùi Diễm. Theo thể thức lịch sử truyền khẩu (oral history) . Phim tài liệu Việt Ngữ chủ đề “Con Người và Lịch Sử: Sự Can Thiệp Của Hoa Kỳ Tại Việt Nam Qua Cái Nhìn Của Một Nhà Ngoại Giao, 1965-1975”. Bộ phim dài 17 tiếng
Sự kiện và thời sự về Biển Đông. Báo Mỹ The Hill cho biết chuyên gia Biển Đông Gregory B. Poling đang làm việc tại CSIS nói “Quốc hội Mỹ đang gửi đi thông điệp, rằng Washington chưa hề quên vấn đề tranh chấp ở Biển Đông hay những đồng minh của Mỹ bị liên lụy. Quốc hội Mỹ muốn Phủ Tổng Thống và Bộ Quốc Phòng Mỹ hành động nhiều hơn với vấn đề này”. Giới chiến lược quốc tế cho rằng việc Washington tăng ngân sách quốc phòng hướng về Bắc Kinh là “lời cảnh báo Trung Quốc”.
TAIPEI, Đài Loan -- Đảo quốc cho biết sẽ bằng mọi giá không để cho Hoa Lục thôn tính. Bản tin RTI ghi lời Thủ tướng Tô Trinh Xương bày tỏ bảo vệ chủ quyền thiện chí, không để Trung Quốc thôn tính trong thế hệ này.
SEOUL, Nam Hàn -- Người anh em Bắc Hàn quậy vô cùng... Bản tin KBS từ Nam Hàn kể: CSIS phát hiện thêm một căn cứ tên lửa bí mật của Bắc Hàn... “Beyond Parallel” (Vượt qua sự chia cắt), một chương trình chuyên về các vấn đề trên bán đảo Hàn Quốc thuộc Viện nghiên cứu các vấn đề chiến lược và quốc tế (CSIS) của Mỹ, hôm 15/2 (giờ địa phương) đăng tải một báo cáo, trong đó tập trung phân tích căn cứ tên lửa ở xã Sangnam, ở huyện Hochon, tỉnh Nam Hamgyong, thuộc Vành đai tên lửa chiến lược của Bắc Hàn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.