Hôm nay,  

Xin đừng vội tan vào buổi chiều / Oh Please, Not to Fade So Fast into the Afternoon

14/02/202206:04:00(Xem: 12281)
blankNguyễn Lương Vỵ

Xin đừng vội tan vào buổi chiều
Oh Please, Not to Fade So Fast into the Afternoon
.
Thơ: Nguyễn Lương Vỵ
Chuyển ngữ: Phan Tấn Hải
.
Xin đừng vội tan vào buổi chiều
.
Gửi DMC
.
I.
.
Xin đừng vội tan vào buổi chiều
Chiều đang tan vàng ngất cô liêu
Chiều đang vỡ tím ngất một thuở
Chiều đang gió vĩ cầm quá nhiều
.
Gió sẽ cuốn đi trời cuối hạ
Đầm đìa hương rạ với hương cau
Em sẽ thấy mảnh trời rất lạ
Trong vườn thanh rướm nắng không màu
.
Màu hôm trước được mùa hội ngộ
Màu hôm sau mất dấu chim bay
Lời hóa đá nhớ triều sóng vỗ
Ta hóa thân thành chỗ em ngồi
.
Chỗ em ngồi vừa khít chiêm bao
Sẽ không phai lá nở giọng chào
Sẽ không hết đồng dao trổ nụ
Sẽ không ngờ tại sao tại sao . . .
.
.
II.
.
Xin đừng vội tan vào buổi chiều
Chiều đang tan xanh ngất hồn rêu
Chiều đang rụng trắng ngất bóng mộ
Chiều đang đóng đinh một tiếng kêu
.
Một tiếng kêu rất sâu rất nhọn
Ngực tràn âm nhón gót trầm trầm
Em sẽ nghe con đường rất mỏng
Một tiếng kèn lá dứa xa xăm
.
Trời hôm trước nguồn xưa vắng tạnh
Trời hôm sau suối cũ se da
Nước tái mặt mây xám đặc quánh
Ta tái xanh làm kẻ không nhà
.
Kẻ không nhà ghiền làm con ma
Ngó mông ngó miết bóng chiều tà
Ngó nghiêng ngó ngửa mộng bay vụt
Ngó sững thời gian thơm huyết hoa . . .
.
.
III.
.
Xin đừng vội tan vào buổi chiều
Chiều đang tan hồng ngất bao điều
Chiều đang bay nguyệt quế rợp nắng
Chiều đang nồng Hòn Kẽm(*) đá reo
.
Đá reo trên đỉnh cô phong ấy
Tịch mịch rền theo những cánh chim
Em sẽ hái âm tròn mây mẩy
Những hạt cườm hây hẩy trong tim
.
Tìm hôm trước chỗ ngồi đã biệt
Tìm hôm sau tiếng nói đã ly
Vâng đúng vậy chúng ta đang chết
Đang gặm mòn nhai mỏi cuồng si
.
Cuồng si ơi trời đất cũng ừ
Nhịp trùng sinh quay tít ngất ngư
Ta hóa thân thành con muỗi nhỏ
Vo ve bên em nhoẻn nụ cười trừ . . .
04.2011
.
(*) Hòn Kẽm: tên một ngọn núi ở Quảng Nam
.
.
blankTranslated by Phan Tan Hai

Oh Please, Not to Fade So Fast into the Afternoon
To DMC
.
I.
.
Oh please, not to fade so fast into the afternoon
The one that is scattering in a goldenly swooning loneliness
The one that is shattering at a purply time of faintness
And the one whose wind is playing with so many violins
.
Because wind will flow away a sky of ending summer
Blending mistily the fragrances of rice straw and areca nut
And you will see a piece of very strange sky
Falling its colorless sunlight onto your garden
.
Because colors had a fine crop of reunion the previous day
And are gone with traces of flying birds the later day
Words turn into rocks and miss the flapping waves
And I transform into a seat where you sit on
.
Because the seat where you sit on is suitable for a dream
That won’t gray out the leaves voicing the greetings
That won’t see the end of folk songs whispering
And that won’t cease the surprise of whys and whys
.
.
II.
.
Oh please, not to fade so fast into the afternoon
The one that is scattering on greenly swooning soul of moss
The one that is falling on whitely faint shadows of tombs


And the one that is hammering the nails on a scream
.
Because that scream echoes so deeply and so sharply
Becoming deep tone heartbeats humming in my chest
And you will hear over a very slim trail
A song of leaf-made trumpet from far far away
.
Because the ancient spring coyly ran dry under the previous sky
And the old stream is squeezing its skin under the later sky
Water pales its face, cloud thickens grayly
And I become a pale homeless guy
.
The one homeless guy who’s addicted to be a ghost
Who gazes endlessly at the slanting afternoon shadows
Who looks left and right, high and low at soaring dreams
And who suddenly sees the time is perfumed with flowers of blood . . .
.
.
III.
.
Oh please, not to fade so fast into the afternoon
The one that is scaterring with so much faintness of roses
The one that is flying with sunny laurel wreaths
And the one that is warming the sounding rocks on Hon Kem(*)
.
Because the rocks sing from that mountaintop
Softly echo alongside wings of the birds
Become the round notes for you to pick up
And blend the beads of youth into your heart
.
For now I search and see the previous day’s seat is left vacant
And the later day’s voice is also bygone
Yeah it is true that we are dying
We are gnawing and tiredly chewing the silly madness
.
Oh silly madness, just watch the heaven and earth
where the cycles of births revolve around the faintness
Where I transform into a small mosquito
And hover around you and smile naively . . .
April 2011
.
(*) Hon Kem: Name of a mountain in Quang Nam Province.
.
GHI CHÚ:
Hôm nay 14/2/2022 là ngày Lễ Tình Yêu - Valentine's Day. Nguyễn Lương Vỵ (1952-2021) là một trong các nhà thơ viết về tình yêu mãnh liệt nhất trong thi ca Viêt Nam. Tuần lễ này cũng là tròn một năm NLV ra đi. Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ sinh ngày 9/5/1952 tại Quán Rường, Tam Kỳ, Quảng Nam. Từ trần ngày 18/2/2021 tại Quận Cam, California. Nguyễn Lương Vỵ nổi tiếng trong giới văn học Miễn Nam VN từ 1969, khi còn là học sinh trung học. Ông sáng tác đa dạng, nổi bật với văn phong riêng biệt, xuất sắc trong cả thơ đời và thơ đạo.
.
Tác phẩm đã in của Nguyễn Lương Vỵ:
. Âm Vang Và Sắc Màu (NXB Trẻ, Sài Gòn, 1991);
. Phương Ý (NXB Thanh Niên, Sài Gòn, 2000);
. Hòa Âm Âm Âm Âm… (NXB Thư Ấn Quán, New Jersey, 2007);
. Huyết Âm (NXB Q&P Production, California, 2008);
. Tinh Âm (NXB Q&P Production, California, 2010);
. Bốn Câu Thất Huyền Âm (NXB Q&P, Production, California, 2011);
. Tám Câu Lục Huyền Âm (NXB Q&P Production, California, 2013);
. Năm Chữ Năm Câu (NXB Q&P Production, California, 01.2014);
. Năm Chữ Ngàn Câu (NXB Q&P Production, California, 12.2014);
. Tuyển Tập Thơ 45 Năm (1969 – 2014) (NXB Sống, Q&P Production, California, 2015).
. Tuyển Tập Thơ 50 Năm (1969-2019) (Văn Học Press, Q&P Production, California, 2020).
.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.