Hôm nay,  

Vệ quốc

03/04/202221:16:00(Xem: 4743)

Truyện ngắn

HoaHD

 

Xứ Hoa Dương xinh đẹp và thanh bình, những cánh đồng hoa dương bạt ngàn rực rỡ một màu vàng tươi tắn, những cánh đồng lúa mì óng ả như mái tóc phụ nữ Hoa Dương. Đất đai phì nhiêu, trù phú đủ để người Hoa Dương sống sung túc an lành dưới bầu trời xanh thanh bình. Điều này đã làm cho ma vương sanh tâm đố kỵ, y thèm khát mảnh đất ấy từ lâu, y có tham vọng ngông cuồng như những tiền bối của y là phải chiếm lấy cho bằng được. Hùng ma vương nhiều lần dụ dỗ, ép buộc, đe nẹt quốc chủ Hoa Dương:

 

– Chú em với ta là một nhà, xưa nay nhận sự bảo hộ của các tiền bối nhà ta, nay chú em cũng phải quy phục ta, bằng không ta sẽ dùng vũ lực!

 

Quốc chủ Hoa Dương bình tĩnh, can trường:

 

– Chúng ta là bạn láng giềng, Hoa Dương không phải là chư hầu như ông nghĩ!

 

Ma vương cười gằn đầy nham hiểm:

 

– Chú em đừng quên, xứ sở của chú em vốn là một phần của quốc độ ta, từ xưa đến nay là phiên thuộc ta!

 

– Xin lỗi ông, đó là sự hoang tưởng và sự áp đặt cưỡng bách. Chúng tôi đã thoát ra rồi, hiện giờ chúng tôi hoàn toàn độc lập và tự chủ.

 

Hùng ma vương mặt lạnh như băng Bắc Cực, ánh mắt như lang sói, y gầm gừ:

 

– Không được phép độc lập! Chú em phải trung lập theo chiến lược của ta! Cấm chú mày giao lưu hay kết bạn với Chú Sam và bè lũ Bắc Đại Tây Dương!

 

– Thật vô lý! Chúng tôi muốn kết bạn với ai là quyền của chúng tôi, chúng tôi muốn nhập bọn với ai là quyền tự quyết của dân tôi!

 

– Chú mày dám chống ta à?

 

– Chúng tôi không chống ai cả, chúng tôi chỉ muốn sống hòa bình, sống với độc lập tự do của chúng tôi!

 

– Nếu chú mày không nghe lời ta thì hãy chuẩn bị đón đòn sấm sét!

 

*  

 

Hùng ma vương và bộ sậu khuấy động một chiến dịch phỉ báng Hoa Dương, chúng tuyên truyền sai sự thật, tung ra những thuyết âm mưu giả trá, bịa đặt những việc tưởng tượng để kết tội Hoa Dương. Cái dã tâm của Hùng ma vương quá ngông cuồng, y quyết sáp nhập Hoa Dương vào đất y, y có mộng làm đại đế và biến quốc độ của y thành đế quốc. Y đem quân áp sát biên giới Hoa Dương, không khí chiến tranh vô cùng căng thẳng, mùi sát khí từ Hồng cung lởn vởn tỏa ra khắp thế gian. Chú Sam gởi thông điệp cho Hùng ma vương:

 

– Không được đụng đến Hoa Dương! Bằng không thì chúng tôi sẽ cắt nguồn máu của ông.

 

Hùng ma vương cười khinh kỉnh:

 

– Ông cắt nguồn máu của ta tức là tuyên chiến với ta, thế chiến sẽ xảy ra!

 

Chú Sam vẫn minh định:

 

– Không được đụng đến Hoa Dương, nếu không sẽ bị cắt nguồn máu, sẽ bị đóng băng tài sản của ông và bộ sậu, sẽ bị cô lập hoàn toàn. Các ông chỉ có thể quanh quẩn sân nhà chứ không thể ra ngoài!

 

Nhóm Bắc Đại Tây Dương theo kế của Chú Sam, đồng lòng ủng hộ Hoa Dương. Tuy nhiên khi bị Hùng ma vương đe dọa thì bọn họ chỉ giúp Hoa Dương một chút khí tài chứ không dám cho quân đến giúp Hoa Dương. Tiếc thay Hoa Dương đã đặt trọn niềm tin vào bọn họ, quyết chí xin nhập bọn với họ, cũng vì cái lý do này mà Hùng ma vương điên tiết và tấn công Hoa Dương. Nhóm Bắc Đại Tây Dương có vẻ đông đảo và hùng mạnh nhưng thực chất có nhiều kẻ tự tư tự lợi, đã từng giao hảo với Hùng ma vương để thủ lợi, bởi thế khi có chuyện xảy ra thì không thể đi đến quyết định chung. Giờ đây nghe Hùng ma vương đe dọa: “Nếu giúp Hoa Dương ta sẽ cắt dầu, cắt khí và sẽ dùng bảo bối hạt nhân”, thế là cả nhóm xếp càng im re.

 

*

 

Mặc cho cả thế giới cảnh báo trừng phạt nhưng Hùng ma vương vẫn không đổi ý, thế rồi cái ngày đại nạn xảy ra. Hùng ma vương xua quân tràn sang Hoa Dương, bom đạn, hỏa tiển, tên lửa hành trình… dội xuống như mưa tuyết. Xe tăng bắn cả nhà thương, nhà thờ, nhà trường, nhà trẻ, nhà hát... Hùng ma vương ra lệnh:

 

– Công kích không chừa bất cứ mục tiêu nào!

 

Xứ sở Hoa Dương tan tành dưới sự tấn công tàn bạo và man rợ của quân đội ma vương. Chúng công kích suốt ngày đêm. Những thành phố vốn đẹp đẽ và bình yên giờ thành những đống đổ nát, những cánh đồng hoa dương giờ như bãi tha ma, những thị trấn an lành giờ thành bình địa. Máu người Hoa Dương nhuộm đỏ tuyết trắng, thịt xương người Hoa Dương lầy trong những đống đổ nát. Những thiếu phụ mang bầu không có chỗ sanh, những em bé không có nơi trú ngụ, cả dân tộc Hoa Dương bỗng chốc trắng tay, không còn nhà cửa, không điện ga sưởi ấm, không thực phẩm thuốc men...Một thảm cảnh mà trước đó một tuần không thể tưởng tượng ra. Hùng ma vương muốn khủng bố người Hoa Dương, muốn bẻ gãy tinh thần bất khuất của họ. Y ra lệnh tấn công bất kể dân sự hay quân sự, y muốn Hoa Dương trở thành bình địa để trả thù sự kiên cường dõng mãnh của họ. Y càng tàn ác thì người Hoa Dương càng can trường và quyết tâm hơn. Họ đoàn kết quây quanh quốc chủ để chiến đấu cho quê hương xứ sở. Họ quyết đứng thẳng chứ không chịu quỳ. Họ thấm nhuần tư tưởng:” Tự do hay là chết”.

Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, quân đội ma vương đông đảo, khí tài dồi dào, chúng quyết san Hoa Dương thành bình địa. Dù vậy người Hoa Dương vẫn kiên cường giữ vững thế trận của mình. Loài người khắp thế gian biểu tình chống chiến tranh, đả đảo ma vương. Loài người khắp thế gian khâm phục ngưỡng mộ quốc chủ và quân dân Hoa Dương. Họ kêu gọi quyên góp giúp người Hoa Dương, Những chiến binh tự do cũng quyết tâm đến Hoa Dương để cùng họ chống lại ma vương. Chú Sam gởi lời mời quốc chủ Hoa Dương di tản. Ông ấy khảng khái đáp:

 

– Tôi không đi đâu cả, đây là nơi của tôi!

 

Lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của quốc chủ làm cho cả thế gian này cảm phục vô cùng. Quân dân Hoa Dương ủng hộ quốc chủ của mình một cách cao độ. Quốc chủ cũng không phụ lòng dân, ông ấy cởi bỏ vương bào mặc chiến bào ra chiến hào với quân dân. Quốc chủ mặc  giáp bào đi ủy lạo quân dân, viếng thăm cô nhi quả phụ. Ngay cả phu nhân xinh đẹp của ông cũng sát cánh với chồng, với quân dân Hoa Dương để chiến đấu chống quân xâm lăng. Những cô gái trẻ xinh đẹp, mắt xanh tóc vàng lẽ ra đang sống hạnh phúc với người yêu, giờ cũng xung phong ra tuyến đầu vệ quốc. Họ tổ chức lễ cưới ngay tại chiến trường. Những chuyện tình trong chiến tranh vệ quốc đẹp và bi thương hơn cả truyện cổ tích ngày xưa. Quốc chủ Hoa Dương đã tạo nên một làn sóng cảm khái tích cực trong lòng quân dân, ông đã trở thành một biểu tượng yêu nước và can trường, không chỉ người Hoa Dương yêu mến và kính phục ông ấy, người khắp thế gian cũng yêu mến và cảm phục vậy! Ông ấy và quân dân Hoa Dương đã viết nên một bản anh hùng ca mới về tinh thần yêu nước và lòng gan dạ, can trường trong cuộc chiến vệ quốc.

 

*

 

Thiên hạ xưa nay vẫn thường nói: Phật có Phật tử, ma có ma quân; nhà có hiếu tử thì cũng có nghịch tử; nước có hiền thần thì cũng có nghịch thần; xã hội có người ngay ắt cũng không ít kẻ gian. Người xứ Vệ cũng thế, đa số đều đồng cảm với người Hoa Dương, ủng hộ cuộc chiến vệ quốc của họ, đã có những cuộc lạc quyên ủng hộ, có những hành động chia sẻ niềm tin, công lý… Người xứ Vệ rất thấm thía với nỗi đau vong quốc, họ đã từng bị tổ tiên của Hồng xếnh xáng xâm lăng cai trị nhiều đời. Họ đã tốn bao nhiêu xương máu để giành lại độc lập tự do. Bởi vậy họ rất hiểu và thông cảm với cuộc chiến vệ quốc của người Hoa Dương. Hoa Dương ở cạnh Hùng ma vương, họ ở sát nách Hồng xếnh xáng, cả hai quốc độ ở hai phương trời nhưng có chung một mối nguy hiểm lớn. Cả Hùng ma vương lẫn Hồng xếnh xáng đều có dã tâm xâm lăng lấn đất lập đế quốc. Cái tư tưởng cướp đất lập đế quốc là cái tư tưởng lạc hậu của thời mông muội xa xưa, ấy vậy mà nó vẫn di truyền trong huyết quản của bọn chúng. Người xứ Vệ đau với cái nỗi đau của người Hoa Dương, ủng hộ cuộc chiến vệ quốc của người Hoa Dương là vậy. Tuy nhiên cũng có một số dân Vệ lại tà tâm đi ủng hộ Hùng ma vương, bọn chúng vui vẻ hò reo khi thấy xứ sở Hoa Dương bị công kích dã man tàn bạo, chúng ăn mừng khi thấy máu người Hoa Dương đổ, chúng khen ngợi Hùng ma vương hết lời. Sứ quán Hoa Dương ở xứ Vệ tổ chức lạc quyên thì bị quan quân xứ Vệ ngăn cản và phá rối đến độ phải huỷ bỏ. Có một hèn tướng tuyên bố:

 

– Quốc chủ Hoa Dương là một thằng hề trẻ, sao dám chống lại Hùng ma vương lão luyện đầy kinh nghiệm?

 

Dân xứ Vệ chưa hết bàng hoàng và xấu hổ thì một bồi tướng khác lại phát biểu:

 

– Hoa Dương vốn là đất phiên thuộc của Hùng ma vương, sao dám tự tiện kết giao với Chú Sam và nhóm Bắc Đại Tây Dương? Bị tấn công là phải rồi!

 

Thật không biết tả sao cho hết nỗi đớn hèn bạc nhược và nhục nhã này! thân làm tướng mà có tư tưởng tôi đòi ưng khuyển như thế! Những lời phát biểu vừa thể hiện sự kém hiểu biết vừa bộc lộ rõ cái tư cách thấp kém. Người xứ Vệ thấy nhục lây vì những tay tướng Vệ này.

 

*

 

 Thiên hạ bốn bên lâu nay vẫn biết cái tình kết giao giữa Hùng ma vương và Hồng xếnh xáng, có lạ chi đâu đầu trâu mặt ngựa với nhau, mạt cưa mướp đắng một phường. Trước khi cuộc chiến Hoa Dương xảy ra. Hồng xếnh xáng bắt tay Hùng ma vương xúi:

 

– Nị cứ đánh chiếm Hoa Dương đi! Ngộ sẽ ủng hộ hết lòng, trước là cảm ơn nị ủng hộ ngộ le lưỡi bò liếm bể Đông, dẹp dân chủ Hương Cảng, đe nẹt bọn tép riu Đông Nam Á; sau thì gởi thông điệp đến Đài Loan, Vệ quốc:” Chúng mày hãy xem cái gương Hoa Dương mà liệu hồn!”

 

Thế rồi Hùng ma vương xua quân xâm lăng Hoa Dương, thiên hạ ngỡ Hồng xếnh xáng sẽ gởi tiền của, khí tài hay quân binh đến giúp, nào ngờ y án binh bất động. Hùng ma vương sa lầy kêu cứu, y cũng giả tảng làm lơ, thế thì hai năm rõ mười rồi nhé! Y là kẻ là ngư ông, để mặc cò ngao tranh nhau mà thủ lợi. Y không giúp Hùng ma vương, một phần để cho Hùng ma vương yếu đi thì y đỡ phải lo, một phần sợ Chú Sam trừng phạt. Hồng xếnh xáng là một con cáo già ma mãnh đầy thủ đoạn, chơi với y thì chỉ có bị thương cho đến chết. Thiên hạ bao nhiêu người đã chết vì y, đã mất đất vì y! Tình bạn giữa y với Hùng ma vương chẳng khác gì kẻ cắp với bà già, chung lưng mở gian hàng nhưng kẻ nào cũng gian và muốn dìm hàng của nhau, bắt tay nhau nhưng cũng sẵn sàng diệt nhau để độc xưng bá.

 

Cuộc chiến trên xứ sở Hoa Dương quá tàn khốc. Người Hoa Dương đơn độc chống lại bạo quyền, họ chiến đấu vì xứ sở, chiến đấu dũng mãnh đẩy lùi được những đợt tấn công dã man của quân đội Hùng ma vương. Cái giá phải trả cho độc lập tự do quá đắt. Máu người Hoa Dương đã đổ ra, những thành phố thành bình địa, những đồng hoa dương tan nát dưới đạn bom. Xác người Hoa Dương lầy trong băng giá, hàng triệu người phải tỵ nạn ly hương. Bầu trời xanh ám muội khói súng...Người Hoa Dương vẫn đứng vững, không một chút sờn lòng nhụt chí. Người Hoa Dươgn đang chiến đấu cho độc lập tự do của họ, chiến đấu cho cả công lý của thế gian này, một cuộc chiến vệ quốc hào hùng.

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 04/22)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.