Hôm nay,  

Thầy tôi

15/05/202220:20:00(Xem: 3660)

Tùy bút

dai-hoc-van-khoa

 

Lạng Sơn, Yên Bái

Sông Đà, Sông Lô

Nơi ghi danh mười ba liệt sĩ

Việt Nam Muôn Năm, hồn cũ còn đây.

 

*

 

Khi chúng tôi được vô lớp học của thầy thì thầy chúng tôi đã cao tuổi rồi, lúc đó, khoảng năm 1965-1970 thầy đã trong, ngoài 60 tuổi. Với cái tuổi gọi là nhi nhĩ thuận đó, thầy tôi còn rất vui vẻ, phong độ uy nghi, đĩnh đạc và sức khỏe tốt. Tứ thời thầy mặc bộ complet đen tươm tất và tay sách cặp da đi dậy học, phía trong áo gilet, thầy cài đủ thứ bút viết, viết bic xanh, đỏ, bút máy, viết chì… để tùy nghi sử dụng và có ngay.

 

Đúng là ở tuổi nhi nhĩ thuận, có nhiều điều chúng tôi nói ra, thầy đều chấp nhận mau mắn rồi sau đó, hạ hồi phân giải, uốn nắn sửa đổi lần lần những sai trái mà không làm chúng tôi khó chịu. Đúng vậy, ở thời điểm đó, thầy tôi còn sức khoẻ tốt, biểu hiện là dáng dấp phúc hậu, phong độ trang nghiêm và lời nói vang vang đầy thân ái.

 

Mỗi buổi chiều, trời bắt đầu chạng vạng nhá nhem tối, thầy bắt gặp mấy đứa con gái chúng tôi tụm năm tụm ba ở cổng trường Đại học Sư phạm, thầy đang đi về nhà, nhưng cũng nán lại mươi phút nói: « Này, các tiểu thư, đi về nhà đi, tối rồi đó! » Vài lần thấy sinh viên la cà trễ nãi, thầy đã kể cho chúng tôi nghe là hồi mấy năm trước, ở cái đại lộ này, Bình Xuyên đánh nhau, bắn nhau dữ dội lắm.

 

Thầy bảo cũng ở cái góc đường Cộng Hòa này, cái đoạn từ trường Đại học Khoa học, giáp với trường Pétrus Ký, rồi trường Đại học Sư phạm có cái lề đường đi bộ khoảng 500m, có một anh sinh viên bên Khoa học, đó là anh Liêm, anh nổi tiếng chăm học, học gạo, rất gạo, lúc nào anh cũng kẹp một cuốn sách học ở hai bàn tay vắt chéo ra sau lưng, thấp xuống một chút. Anh Liêm đi qua đi lại, miệng luôn luôn học bài, không ngừng nghỉ, anh cận thị mang kiếng dầy, quần xanh lam đậm, áo chemise trắng. Từ xa ai cũng biết là anh học gạo đó đang vừa đi vừa gạo bài. Thế rồi, khi Bình Xuyên bắn nhau với quân đội, lạc đạn, anh trúng đạn và quỵ xuống chết ở cái gốc cây đó đó, đúng lối ra của trường Sư phạm đó. Ngày nay, đã hơn 10 năm qua đi, khi trời âm u, anh vẫn về đó, vẫn đi qua đi lại khúc đường đó, vừa đi vừa gạo bài, các con cứ la cà ở đây, có ngày các con sẽ gặp anh Liêm!

 

Thầy nói rồi vội vã bỏ đi làm tụi tôi sợ khiếp vía, vội chia tay nhau đón xe lam Cây Mai, Cây Gõ về trung tâm thành phố và về nhà.

 

Ở đây tôi ưng nói về ít nhiều kỷ niệm với thầy, giữa thầy với sinh viên, với trường lớp, còn tiểu sử và công trình của thầy thì trên mạng đã có rất đầy đủ rồi. Thầy tôi giảng bài rất hay, lời nói, ý và từ diễn đạt rất cuốn hút, rất sâu sắc, tinh tế… nhiều văn từ, hình ảnh, nghe xong còn tiếc ngẩn ngơ, nhất là khi người giảng Kiều hay Chinh Phụ Ngâm Khúc, nói chung là cả cổ văn, văn vần hay cả văn xuôi, thầy giảng rất lôi cuốn và khó quên.

 

Giáo sư Lê Hữu Mục và nhiều bạn sinh viên đồng môn ban Việt-Hán (Đại học Văn khoa và Sư phạm) Sài Gòn đều công nhận rằng thầy đã có công truyền thụ cho học trò sự rung động, lòng tự hào, và tính tự chủ của ngôn ngữ Việt trước ảnh hưởng của ngôn ngữ Trung Hoa, bằng cách sử dụng từ Hán-Việt sao cho thuần Việt hơn thuần Hán để đủ khả năng diễn tả tinh tường các ý niệm, các khái niệm kỹ thuật và triết học khó hiểu. Thầy được đào tạo theo hệ chính quy và suốt đời thầy vẫn vừa đi dạy học vùa tự học thêm. Thầy luôn nhắn nhủ chúng tôi là sự học như thuyền ngược nước, không tiến ắt phải lùi, nên chúng ta phải luôn luôn học hỏi, có thì giờ là học, có cơ hội là học thêm, sự học chẳng bao giờ dư thừa, bất cứ học ngành nghề nào cũng vậy.

 

Thầy sinh năm 1907, quê quán Nam Định, lớn lên là thời chiến tranh của quê hương cũng là thời Pháp thuộc, thầy được đào tạo về văn hóa văn học theo hệ chính quy, nhưng với tính tình tự ham tìm học, cầu tiến, thầy am tường sâu rộng Hán văn và Pháp văn. Thầy cũng nghiên cứu, tra tìm về Lão Tử, Đạo Đức Kinh, thầy dịch Thủy Hử sang Pháp văn. Thầy có nhiều bộ sách quý còn lưu giữ trong tủ sách giáo khoa quý báu như: Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Luận Văn Thư Phạm, Việt Luận, Đạo Đức Kinh Lão Tử.

 

Thầy tôi đó, với vóc dáng uy nghi, đĩnh đạc, với sức truyền thụ văn hóa cuốn hút, ngôn từ đẹp và trong sáng, đi thẳng vào lòng người nghe, như cho đi một sức sống, một năng lượng bình an. Có thể đó là lý do phần nào, thầy chỉ giảng ở lớp, ở giảng đường, có nghĩa là chuyên môn về lý thuyết, về nội dung hơn là về hình thức. Cũng có nghĩa là người giảng bài mà không hướng dẫn học trò đi thực tập. Một phần người khá lớn tuổi và không thích cho điểm chúng tôi. Vả lại thầy già cả rồi, bắt thầy chạy theo học trò từ trường nọ qua trường kia e hơi mệt!

 

Vì thầy không chấm điểm nên học trò cũng thích đến gần thầy hơn. Chúng tôi thật đội ơn trời, có may mắn được theo học thầy, người thầy có sung mãn kinh nghiệm và kiến thức trong ngành nghề. Quả vậy, chúng tôi vào hàng học trò cháu nội cháu ngoại của cụ, vì các thầy cô của chúng tôi ở các trường trung học đã là học trò chân truyền của cụ từ một thế hệ trước chúng tôi.

 

Thầy là thầy dậy học mà cũng như là ông nội hay ông ngoại chúng tôi vậy, nên chúng tôi rất trân quý những kỷ niệm với thầy, nhớ như in, vào những ngày đầu tiên của năm học ấy, thầy mở đầu niên khóa giảng nhiều về văn xuôi, có lần vào lớp mở cuốn sách của GS Dương Quảng Hàm, thầy bảo cả lớp mở ra trang 220, hôm nay chúng ta học về văn xuôi của Tự Lực Văn Đoàn, bài điển hình là bài « Bóng người trong sương mù » của tác giả Nhất Linh.

 

Bài đó đại ý kể chuyện một người lái tàu hỏa dưới thời Pháp thuộc ở Hà Nội xa tắp, hôm đấy ông lái xe hỏa, chuyến xe chở quan toàn quyền Đông Dương từ miền xuôi lên mạn ngược, có thể sang biên giới Hoa Việt.

 

Vợ người lái xe bị đau rất nặng nằm ở nhà, ông nhìn vợ và thương, ông e ngại, cũng không muốn đi làm nhưng đó là mệnh lệnh! Vợ ông khuyên ông nên đi làm và khi về « mua quà cho em ». Ông ra đi mà lòng nặng trĩu. Ông lái chuyến xe hỏa đó cho quan toàn quyền mà, quan trọng lắm, cứ yên trí mà đi đi. Lái rầm rầm đi được một đoạn đường dài, bên ngoài trời mưa to gió lớn như bão lụt ầm ập đến, xe vẫn chạy trong giông bão, và người tài xế này nhìn thấy trên đèn xe, ngay trước mặt đối diện với bánh lái xe, có bóng một người đàn bà mờ mờ hiện ra, vẫy vẫy tay ra hiệu cho xe ngừng lại, ngừng lại ngay như có sự gì nguy hiểm chăng? Ông gọi người phụ lái ra nhìn, người phụ lái quan sát kỹ rồi bảo: « Quái lạ, hay đúng là ma ông ạ! Bà ma ấy bảo chúng ta hãm xe, ngừng chạy ».

 

Nhưng ông vẫn cho xe tàu lao đi, vùn vụt trong giông bão, vì vô cớ mà chuyến xe chở quan toàn quyền ngừng lại giữa đường thì không được, rất nguy hiểm và vô lý. Ông không dám phanh xe lại. Nhưng rồi cái bóng ấy lại càng vẫy tay mau hơn, rồi rít lên, ra hiệu ngừng ngay, ngừng ngay lại! Ông không còn định được thần trí, nhả chân ga và kéo thắng tay gấp. Tàu kêu rít lên, các toa như rùng mình  rồi ngừng lại giữa đường.

 

Người chef đoàn tàu cầm đèn bão chạy vội lại hỏi: « Có chuyện gì vậy ? Sao xe ngừng lại? »

« Không biết có chuyện gì, để tôi lên coi! »  Ông trả lời vậy và chạy lẹ lên phía đầu xe, phía trước, để tránh phải trả lời một việc mà ông không hiểu rõ sao mình lại thắng xe lại vô cớ! Vừa chạy tới khoảng 200m thì hỡi ôi, cái cây cầu N.G. bắc ngang con sông lớn, ngay phía trước mặt, đã bị bão và lũ đánh sập! Trời ơi, nếu ông không kịp ngừng xe gấp thì chỉ 2, 3 phút nữa, cả chuyến xe chở quan toàn quyền và hành khách lao xuống vực sông sâu này, e không còn ai sống sót!

 

Quan và cả mọi người đổ xô lại hỏi tài xế tại sao biết nguy hiểm mà ngừng? Ông trả lời vu vơ như đang ở trên mây: « Tôi cũng không hiểu, chỉ nghe gió thổi ào ào và tiếng nước đổ ầm ầm, tôi kéo thắng! » Rồi ông đi lại đầu xe, nhẹ tay gỡ trên đèn xe ra một con bướm trắng to, mắc kẹt, trên đó. Con bướm bị kẹt chết nằm đó tự bao giờ?

 

Chẳng biết có phải là chuyện ma hay không ma, nhưng hôm đó, thầy không giảng, mà chỉ đọc cho chúng tôi nghe, thầy đọc thật diễn cảm và thật truyền cảm, những chi tiết, những mô tả, người đàn bà có hai cái tay trắng thật dài vẫy vẫy trong sương mù mù và những cảm nhận, những ý nghĩ của người chồng, có vợ đau bệnh nặng ở nhà… làm mấy đứa tôi ngồi ngay bàn đầu sợ quá, sợ lạnh cả lưng, tự nhiên ngồi dán sát vô nhau. Thầy đọc xong, đứng yên một phút, thầy quan sát chúng tôi, ông cười, hơi nhạo báng và cũng rất thương hại vì ông biết mấy đứa con gái chúng tôi vẫn còn đang sợ ma co rúm cả người. Nhưng sau cùng người cũng phán rằng:

 

-- Đó, có những bài học mà chúng ta không cần phải giảng, không phải phân tích bố cục, không cần phê bình nội dung, hình thức. Chỉ cần đọc và đọc đúng ý của tác giả, người nghe cảm nhận được là thầy đã thành công, còn hơn là giảng, mà giảng không thành thân.

 

Thầy luôn lưu ý học trò là giáo dục phải đặt trên nền tảng của bản chất và bản thể của đối tượng, chứ giáo dục không căn cứ trên những hiện tượng nông cạn nhất thời. Một khi học trò tới lớp là bản chất muốn được học hỏi, nếu lỡ nó lười hay yếu kém ở một góc cạnh nào đó mà thầy từ chối, đuổi nó xa thầy, rồi thầy dạy ai?

 

Tựu chung, thầy nói là giáo dục phải công bằng và tới nơi tới chốn. Làm sao đó cho chu đáo tới cùng, để sau đó, thầy hay cô, không ân hận, không áy náy và nhứt là  mình khỏi phải có lúc tự coi thường mình. Nói quy luật là vậy nhưng không phải lúc nào thầy cũng dồn chúng tôi vào trong phạm trù nhiều lần thầy bầy tỏ quan điểm riêng rất vui qua tâm ý tác giả của mỗi bài giảng.

 

Chẳng hạn lúc giảng ca dao bình dân: “Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng, tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu, bây giờ cô lấy chồng đâu, mà để cho anh cúng trăm cau ngàn vàng, năm trăm anh đốt cho nàng, còn năm trăm nữa giải oan lời thề”, thầy bảo là cái anh con trai nhà quê xưa của ta cũng lắm điều, lắm lời, chua ngoa không thua đàn bà con gái ở thành thị đâu. Anh đang rủa xả cho người ta chết đi đó, người ta chết đi để anh đốt giấy tiền vàng mã hóa thân, và thầy quay lại căn dặn chúng tôi:

 

-- Các tiên sinh, các tiểu thơ ngày nay đừng tai ác như thế đó nhe.

 

Thầy cũng có lúc kêu học trò là tiên sinh, là tiểu thơ. Ôi, cụ quá lễ phép, rất hồn nhiên.

 

Giáo sư Lê Hữu Mục, khi gặp lại ở hải ngoại, có cho sinh viên hay là ngày 30-04-1975, thầy chúng tôi có đến trường, có dự lễ bàn giao trường với ban giám hiệu mới, và ngay sau lễ bàn giao thầy đưa ngay ra một lá đơn gửi chính quyền mới là thầy xin về hưu trí, với lý do tuổi đã quá già, sức đã quá yếu. Giáo sư Lê Hữu Mục cũng ngỏ ý than phiền với sinh viên ở hải ngoại là vì Việt Cộng tràn vô chiếm miền Nam nên thầy tôi mất sớm (vì ưu phiền?) Có lẽ, chứ với sức khỏe, tốt người, tốt tánh thế, đáng lẽ ra thầy tôi phải có tuổi thọ cao hơn nhiều.

 

Lúc còn sinh thời, còn đang độ tươi trẻ và đầy hào khí cách mạng, thầy tôi đã tham gia cách mạng đảng bí mật Nguyễn Thái Học. Vào những năm 1945-1950 thầy bị chính quyền bảo hộ thực dân Pháp bắt giam, bị cầm tù, ở nhà giam Hỏa Lò (ngay Hà Nội) rồi sau bị đày ra đảo Côn Sơn, bị kết án 20 năm tù. May thay, khi Mặt trận Bình dân ở Pháp lên tạo được nhiều ảnh hưởng chính trị ở các thuộc địa, kể cả ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa tha thầy tôi ra tù.

 

Về lại tự do, thầy gắn bó với trường lớp, với học trò, với phấn trắng, bảng đen cho tới gần hết cả cuộc đời. Điều đau lòng nhứt là thực dân, bảo hộ trả tự do cho thầy tôi, mà sau này tụi cộng sản vô thần tụi độc tài đảng trị Việt Nam dốt nát, chúng nó đã tàn ác, nhẫn tâm, không tha cho cái ý chí yêu nước yêu tự do của thầy tôi, thầy chúng tôi, một người thầy giáo tài, đức vẹn toàn. Thầy tôi đó, thưa quý bạn, đó là cố giáo sư Hạo Nhiên Nghiêm Toản.

 

Trong những người bạn, người thân quen với thầy, trong tâm tưởng mọi sinh viên  học thầy, hình ảnh thầy Nghiêm Toản luôn hiện lên với những tình cảm đẹp đẽ được lưu giữ đến không phai mờ!

 

Kính nhớ.

 

Chúc Thanh
(Paris, 5/2022)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.