Hôm nay,  

Sonnet | Đối Thoại

10/06/202200:00:00(Xem: 6130)

Từ trái Cung Tiến Doãn Quốc Sỹ Trần Dạ Từ Nguyễn Xuân Nghĩa
Cung Tiến và bạn văn nghệ sĩ: Cung Tiến, Doãn Quốc Sỹ, Trần Dạ Từ, Nguyễn Xuân Nghĩa, tòa soạn Việt Báo, 2019, Westminster

Cung Tiến là một tên tuổi lớn của âm nhac Việt Nam, nhưng ông cũng là một tác giả có nhiều đóng góp vào hai mươi năm văn học miền Nam và văn học hải ngoại. Vào những thập niên 1950 và 1960, với bút hiệu Thạch Chương, Ông đã sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan điểm, và Văn. Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn Hồi ký Viết Dưới Hầm của Dostoievsky và cuốn Một Ngày Trong Đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn.

Mời đọc lại hai bài thơ Thạch Chương viết thời ông ở tuổi đôi mươi.



*** 

SONNET

Thạch Chương

 

Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi

ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển;

qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm

em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi.

 

Sau áo len danh từ là thế giới xa vời,

là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm;

qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm

vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.

 

-- Kèn đồng xin loa vang đạp những thành kia xuống!

bóp nghẹt tiếng cười, và xin khô héo đôi môi;

 

yêu, thương, sầu, nhớ. Hãy vượt qua thành hiện tượng,

soi mặt trời mắt em,  để tôi chiêm ngưỡng

hình tôi.

 

***

ĐỐI THOẠI

 

nhân vật

 

Sáng khuya đô thị hai giờ

Những mớ tóc yêu tinh xòa ngõ hẻm

Những bước chân giầy rộn rã

Rộn rã trong tim

căng thẳng. Và những điểm lập lòe thuốc lá

Rồi rộn rã. Rồi câm im

Rồi những thì thầm nhày nhụa

Nhưng trên kia là giải ngân hà như lụa

 

đôi mắt

 

Và chúng nó làm đầy khối không gian nhỏ

Bằng đủ loại hơi hữu cơ

Cười phì hơi dạ dày tròm mồm

Ngày dại điên cuồng bệnh hoạn là

những cặp mắt sờ

da thịt em tàn nhẫn

Ngạo nghễ như thiên thần

Em thuộc về anh em không thuộc

về chúng nó

Em đoán – bằng và qua đôi mắt

Bằng sự vắng mặt của anh

Rằng có thể người ấy vừa nhắm mắt

Hoặc có thể đang nằm bệnh viện hoặc

có thể có thể chẳng có gì

Nhưng một sự thật em chắc chắn

là em muốn cắn anh vì sự

anh thờ ơ

 

nhân vật

Đôi mắt dịu ăn-sâu-vào-trái-tim

theo đuổi chập chờn như một sợ hãi

Những cửa sổ đen ngòm thì thầm

Kể lể những sa đọa thường xuyên

Chứng kiến ở mỗi

sáng khuya đô thị hai giờ

Cột đèn nghiêm trang sao không nói

Cây reo lãnh đạm sao không nói

Và cầu dài câm bóng nhà cao đổ

im lìm và vườn và vườn hoa và ghế dài và

thềm nhà và

Tại sao không nói. Xin

cúi đầu van lạy đừng ruồng bỏ

Bởi biết rằng sáng mai khi mặt trời

về các người sẽ

thân yêu và tha thứ

 

đôi mắt

Em thề em không thuộc về chúng nó

Thương hại những mớ tóc vàng

mềm óng bồng bềnh gió biển là những

thủy thủ Noel lần đầu bến lạ

Và môi ngạc nhiên nhạo báng vô tư

Bởi những sợi tóc giả những cánh tay già

Quàng xiết bằng một đam mê lạnh

Những con mắt bốc hơi những bụng tròn

Không thở những thuốc lá quên hút

những toan tính nhày nhụa

và vải bàn trắng rượu đỏ lênh láng những

-- Chắc nền nhà đang lung linh

Mẹ và các em đang cầu kinh

Thân thể em biết phút này thôi không huyền

diệu nữa phải không anh

Nhưng còn anh em biết em

sẽ cắn anh vì sự anh thờ ơ

 

nhân vật

Cửa sổ đen ngòm cười mai mỉa

Đường âm tiếng giày khô

Nhạo báng

Và trên kia là giải ngân hà như lụa

Sao rơi vào mắt vào tâm hồn như mưa

Phố rỗng. Cây vắng mặt. Cột đèn bỏ quên

Hai điểm sáng long lanh tinh nghịch cầu xin

làm nhói trái tim

Trên cầu bóng loạng choạng

một thủy thủ già trên môi vừa chết đi

khúc ca chiến thắng của bản năng

Không không trăm lần không

Và sương này mưa lò cửa sổ

Gối trắng mờ sáng – đêm – chờ đợi thân yêu

Bàn ghế hòm tủ sách vở chạy sô êm đềm thăm hỏi

Và những trang vàng

Và tận cùng một quyển sách là

điểm mong manh m-ột chân lý

 

XII-58 Sydney

Thạch Chương

 

*Tài liệu từ facebook.com/huyvespa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.