Hôm nay,  

Phật pháp vào chốn lao tù

28/07/202216:48:00(Xem: 3371)

Tùy bút 


nguyencau

Câu chuyện bắt đầu rất đau buồn nhưng về sau lại mở ra một cánh cửa mới đầy hy vọng và tỉnh thức. Zach Obseon lúc nhỏ đã chứng kiến em gái của mình bị hiếp và giết chết, sau này lớn lên anh theo học ngành cảnh sát với tâm nguyện ngăn chặn cái ác, không để xảy ra những trường hợp như em gái của mình. Về phần kẻ thủ ác, anh ta tên  Dennis Skillicorn , sau khi bị bắt và chịu án chung thân không ân xá. Trong thời gian ở tù, anh ta đã ăn năn tội lỗi của mình, anh ta và những bạn tù khác lập ra tờ báo “Compassion”, số tiền thu được làm học bổng cho Obseon cũng như những học viên cảnh sát khác. Có một đoạn được trích từ tờ báo ấy:” Chúng tôi muốn trợ giúp Obseon hoàn thành giấc mơ trở thành cảnh sát hình sự để ngăn chặn tội ác bạo động trong tương lai”. Người tù chung thân và những bạn bè của anh ta đã làm báo lấy tiền hỗ trợ tài chánh cho các học viên cảnh sát với hy vọng là sẽ có thêm những nhân viên công lực bảo vệ an toàn xã hội, ngăn chặn cái ác.


Chuyện tù nhân ăn năn sám hối tội lỗi vốn không lạ, tù nhân làm báo là một chuyện hy hữu của thế gian này, có thể nói là việc chưa từng nghe thấy ở bất cứ nơi đâu trên thế giới. Đây là câu chuyện được thuật lại trong quyển:” Nữ tu và tù nhân Hoa Kỳ” của ni sư Thích Nữ Giới Hương. Trong quyển này còn có một số lượng lớn thư từ của các tù nhân viết gởi cho ni sư, cảm ơn ni sư, trình bày sự chuyển biến thay đổi của con người họ. Một sự thay đổi vô cùng ngoạn mục từ nhận thức đến hành động, một sự thay đổi khó tin nổi nhưng đây là một sự thật. Trong nhà Phật thường nói không có phép thuật mầu nhiệm, phép thuật mầu nhiệm không phải là đi trên mặt nước hay phun lửa nhả khói, phép lạ nhiệm mầu chính là thay đổi một con người. Đọc xong quyển sách này, tôi thấy đây là cả một phép lạ mầu nhiệm mà ni sư Giới Hương cùng các tu sĩ và hội thiền Milwaukee khác đã thực hiện được ở một số nhà tù của tiểu bang Wisconsin.


Trong suốt nhiều năm, ni sư Giới Hương, ni sư Tonen và các tu sĩ khác của hội thiền học Milwaukee đã đi đến nhiều nhà tù để trợ giúp tinh thần cho các tù nhân, dạy thiền, hướng dẫn Phật pháp, có thể kể tên vài nhà tù trọng cấm khét tiếng như: Dodge Correctional Institution, Green Bay Correctional Institution, Oshkosh, WI.


Mọi người chúng ta cũng biết đấy, chốn lao tù là nơi giam giữ những kẻ phạm pháp luật, nhưng chốn lao tù lại vắng bóng pháp luật, ở đấy chỉ có luật rừng, luật giang hồ, đại bàng, đầu gấu, nha trảo… hành xử thay pháp luật. Ở đấy chỉ có sức mạnh và sự tàn ác thống trị, trong chốn ấy tù nhân chẳng còn nhân phẩm danh giá gì, ngay cả thân xác cũng bị bạo hành thường xuyên. Những tù nhân chịu án chung thân hay tử hình thì càng ghê gớm hơn. Họ không còn gì để mất nên rất hung hãn và tàn bạo… Ấy vậy mà ni sư Giới hương một phụ nữ chấu Á nhỏ bé cùng với những tu sĩ khác dám dấn thân vào chốn lao tù để hoằng pháp độ sanh. Việc làm của ni sư đã có hiệu quả to lớn, khá nhiều tù nhân đã chịu lắng nghe, chịu thực hành thiền, họ nhìn lại bản thân họ, quán lại nội tâm họ. Rất nhiều tù nhân trở nên hiền hơn, bớt bạo động, loạn động, quậy phá, đánh nhau. Quan trọng là họ nhìn ra sự thật và chấp nhận hậu quả đã gây ra. Họ tìm được sự an lạc ngay trong những ngày tháng bị giam giữ. Quản giáo các nhà tù cũng rất có thiện cảm và họ tạo điều kiện thuận lợi cho ni sư và các tu sĩ hoạt động. Rất nhiều lá thư viết rất cảm động, họ cảm ơn ni sư, ta có thể kể tên vài tù nhân như:  Cadence, Brodwin, Jackson, Amanda, Nathniel… Và có cả tù Việt nữa như: Cong Tran…


Ni sư Giới hương người Bình Tuy, thuở nhỏ quy y với sư bà Hải triều Âm, ni sư đã tốt nghiệp khoa văn trường đại học tổng hợp ( tức trường văn khoa cũ), sau đó du học ở Ấn Độ mười năm và hoàn thành luận án tiến sĩ Phật học ở đại học Delhi.Năm 2005 ni sư sang Mỹ hoằng pháp và lại tốt nghiệp cử nhân khoa văn của trường đại học Riverside ( Ca), hiện thời đang học cao học ngành văn chương cũng trường Riverside (Cali). Ni sư sáng lập chùa Hương Sen ở Cali và Hương Sen ở Sài Gòn. Ni sư đã viết hàng chục cuốn sách và biên soạn một số kinh điển, có thể kể tên vài đầu sách như: Nữ tu và tù nhân Hoa Kỳ (đã tái bản đến lần thứ 5), Nét bút bên song cửa, Luân hồi trong kinh lăng nghiêm, Pháp ngữ trong kinh kim cang... Vừa rồi tôi có duyên lành được ni sư tăng một số sách, quả thật với số sách này chắc phải đọc cả tháng mới xong. Tôi thật sự kinh ngạc với năng lực viết sách và biên soạn của ni sư, một năng lực thật kinh khủng, không làm sao hiểu nổi ni sư có thể viết chừng ấy sách trong khi đó lúc nào cũng bận rộn làm việc cật lực, nào là lo xây dựng chùa, tham gia giảng dạy ở học viện Phật giáo ( Sài Gòn), đi thuyết pháp, lên mạng thuyết pháp, đi các nhà tù trợ giúp tinh thần cho tù nhân, đi tham học các nơi… Ni sư cần mẫn làm việc cả chân tay lẫn trí óc, một năng lực đáng kinh ngạc. Thật sự không hiểu từ đâu mà ni sư có một trí lực, sức lực kinh khủng đến như thế. Một thân thể cũng tầm thước bình thường như mọi người Việt nhưng lại ngầm chứa nội lực thật kinh khủng, sở dĩ tôi lập đi lập laị hai chữ kinh khủng vì quá khâm phục sức làm việc của ni sư. Trong đầu tôi lại tái khởi câu hỏi mà tôi đã nhiều lần tự hỏi:” Cũng thân thể con người ta như thế, cũng ăn cơm uống nước hít thở khí trời như thế, cớ sao có những người lại thông minh một cách tuyệt vời, giỏi giang và tài hoa tuyệt đỉnh còn mình thì như cái bị thịt, cứ sống lây lấy ù ù cạc cạc cho qua ngày?”


Đây chỉ là câu hỏi tu từ, hỏi để mà hỏi chứ thật sự ai cũng biết, hỏi để thố lộ nỗi lòng trong phút chốc vì thấy ai cũng tài giỏi mà mình thì “Như cái bị thịt vô tích sự”. Mọi việc, mọi sự trên thế gian này không có gì nằm ngoài cái mối: Nhân – duyên – quả cả! 


Ni sư Giới Hương  hoạt động không mệt mỏi, đi khắp các chùa ở Mỹ để hoằng pháp, đi nhiều nhà tù để độ sanh, giúp chữa trị tinh thần cho tù nhân, vực họ dậy từ hoang vu tro tàn của sự hoang mang tuyệt vọng. Quý vị cứ thử hình dung nhé, một phụ nữ châu Á nhỏ con, khác biệt văn hóa, tập quán, truyền thống và đức tin… vậy mà đã thuyết phục, thuyết pháp cho những tù nhân Mỹ, Phi to như đô vật, hung hăng và rất manh động. Thế mà bọn họ đã nghe và đã thực hành theo lời ni sư, phải có phước đức lớn lắm mới có thể làm được một việc tưởng chừng như không thể. 


Ni sư Giới Hương có thể nói là một nhân tài trong Phật giáo Việt Nam hiện đại, xứng đáng là ni trưởng trong ni giới Việt (cả hải ngoại lẫn quốc nội). Chủ nhật vừa rồi, ni sư cùng với mấy huynh đệ của mình sang thành Ất Lăng dự lễ tưởng niệm ân sư hòa thượng Thích Như Minh. Tôi có dịp được gặp ni sư trong một buổi. Tôi ngầm quan sát xem ni sư (với sự kính trọng) có những quý tướng nào chăng hay có những dấu hiệu kiệt xuất, nhưng tôi thấy ni sư cũng bình dị như mọi ni sư khác: hiền hòa, từ ái, vui vẻ và khá nhanh nhẹn, nói năng rõ ràng, khúc chiết. Ấy vậy mà trong cái thân ngũ uẩn ấy lại có một năng lực thật đáng để khâm phục, một sức làm việc không mệt mỏi, sức sáng tác mạnh mẽ, một trí lực thông minh mẫn tiệp, thật xứng đáng là trưởng tử của Như Lai.


Ni sư đã đi nhiều nhà tù để hướng dẫn phật pháp cho tù nhân, Phật pháp không còn là nói huyền nói diệu, không phải ở những bộ kinh đồ sộ thâm sâu ý nghĩa, Phật pháp cũng không ở trong những bảo điện nguy nga lộng lẫy. Phật pháp đã áp dụng ngay trong đời thường, Phật pháp vào chốn lao tù, cái chốn đau khổ, đen tối nhất của cõi người. Phật pháp đã đến với tù nhân, những con người phạm tội, những con người mất tự do vì phải trả giá cho tội ác của mình. Phật pháp đã vực dậy và làm thay đổi không ít con người trong cái chốn khốn cùng ấy. Những con người từ tuyệt vọng, hung hãn, manh động, không còn mục đích và ý nghĩa gì để sống đã trở thành những con người hiền hơn, biết phục vụ cho tha nhân cho dù bản thân vẫn phải chịu giam cầm vì tội lỗi của mình trước kia. Phật pháp đến với những tù nhân của ngục tù thế gian, ngục tù của sự si mê sân hận, ngục tù của tối tăm không lối thoát… Những con người vừa đáng giận vừa đáng thương ấy đã nhận được pháp nhũ, đã cảm thọ được diệu pháp từ ni sư Giới Hương và những tu sĩ khác, những vị sư can đảm, vô úy, vị tha đã đem phật pháp vào chốn lao tù.


-- Tiểu Lục Thần Phong 

(Ất Lăng thành, 07/22)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tuần trước đi chợ chị Bông đã biết sắp đến sinh nhật của cháu nội yêu Betsy, chị mua ngay một tấm thiệp đẹp để sẵn vậy mà chị Bông lại quên mất...
Năm 2010, biết tôi qua Mỹ, nhân dịp Hội Ngộ Trường IVS (International Voluntary Service), nhà văn Đặng Phú Phong đề nghị giúp tôi in sách và tổ chức ra mắt sách ở nam California...
Ba chở tôi đến phi trường Phú Bài, Huế, đón cậu em từ Đà Lạt ra để giúp Ba và tôi trong việc làm ăn của Ba. Me và ba em kia vẫn đi làm đi học ở xứ sở sương mù. Gặp lại em Vũ sau nhiều tháng xa cách, thật mừng rỡ. Lúc xưa cả gia đình Ba Me và sáu người con đều quây quần, rồi chị và anh lớn đi xa để tiếp tục việc học, còn lại bốn chị em rất thân nhau. Ôi bao nhiêu kỷ niệm...
Tháng 7 là tháng của Hiệp định Genève chia đôi đất nước, chấm dứt cuộc chiến Pháp-Việt 9 năm, nhưng bắt đầu cuộc chiến Nam-Bắc tương tàn 20 năm sau đó. Để đánh dấu ngày Quốc Hận 20/7, Việt Báo xin đăng lại bài Ký về miền đất Quảng Trị nơi có con sông Bến Hải ngăn chia hai miền, của một tác giả có bút hiệu là Người Xứ Huế (mà chúng tôi không biết là ai) do nhà văn Trần Vũ viết giới thiệu…
Ai Cập được biết đến và nổi tiếng qua nữ hoàng Cleopatra, và hai kỳ quan thế giới cổ đại, là kim tự tháp Kheops và ngọn hải đăng Alexandria. Mối tình bất tử của Cleopatra với Mark Antony cũng là một thiên tình sử bi đát. Đến cái chết của nữ hoàng Ai Cập cũng bao phủ một màn bí mật, khiến cho những nhà nghiên cứu tham gia khám phá. Cuộc đời, với tài năng trị nước và những mối tình của Cleopatra là nguồn cảm hứng của vô số sách vở, kịch nghệ, hội họa, điện ảnh, và hơn 30 vở Opera. Nhà soạn kịch trứ danh William Shakespeare với vở Antony và Cleopatra, điện ảnh Hollywood với nhiều bộ phim vĩ đại về Cleopatra, nhưng ấn tượng nhất là Elizabeth Taylor và Richard Burton trong bộ phim năm 1963...
Ai cũng biết giấy là một vật rất quan trọng trong cuộc sống của nhân loại. Thời xa xưa, giấy vừa quý hiếm vừa mắc, chỉ được dùng trong việc ghi chép kinh kệ trong các nghi lễ tôn giáo, và cho các văn tự trong cung đình của vua chúa. Giấy được chế tạo lần đầu tiên vào năm 105 AD trước Công Nguyên, bên Tàu, bởi một quan thái giám tên Ts’ai Lun (1). Nhưng hôm nay, tôi chỉ xin nói đến một khía cạnh “cực kỳ” quan trọng không kém của giấy, có khi quan trọng hơn là đằng khác trong thời đại chúng ta đang sống hôm nay, là giấy vệ sinh (toilet/bathroom tissue), nói nôm na là giấy đi cầu...
Đi giữa đường chiều dọc theo khu rừng cấm Stow, Ohio. Bóng chiều vừa xuống ánh sáng hoàng hôn dâng cao trên đỉnh những ngọn cây. Chiều nay, chiều cuối tháng Bảy, mùa Hạ rồi sẽ qua. Bóng dáng quê nhà cùng nắng nóng cũng khuất dần theo tháng Bảy...
Khi mùa dịch Covid ập đến, với một số người Việt tại Canada (tôi đoán chừng) là không có hiện tượng chạy vào Costco hay các chợ khác mua nhiều gạo mắm hay thức ăn tích trữ, ngoại trừ những người nhẹ dạ, lo xa...
Thơ của hai người: Quảng Tánh Trần Cầm & Thy An...
Con sông xanh vào mùa khô chỉ còn một dòng nhỏ chảy sát mé hữu, cả dòng sông giờ là một bãi cát rộng mênh mông chi địa. Mỗi buổi tan trường, học sinh trường Bồ Đề tỏa ra chơi bời chạy nhảy đã đời luôn. Tụi thằng Danh, thằng Hiển, con Hoa, con Lợi… thường kéo đến bơi lội ở quãng trước nhà máy nước, dòng sông khô cạn nhưng duy chỉ khúc này nước tạo thành một vực sâu và rộng, làn nước trong xanh mát lạnh, những hàng cây bên bờ rủ bóng, những cây cừa nước chìa cành ra sát mặt sông...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.