Hôm nay,  

Những điều mẹ dạy

03/08/202221:07:00(Xem: 3828)
Tùy bút Mùa Vu Lan

nguyencau

 

Tôi là út trong một gia đình có năm anh chị em. Năm tôi lên chín, cha qua đời. Năm ấy mẹ vừa bốn mươi sáu tuổi. Tôi quấn quít bên mẹ và người chị thứ ba nhiều nhất, kể cả những năm lên học trường huyện. Mẹ và chị chắc cũng thương tôi út ít, lại mồ côi cha sớm nên dành hết những lo lắng, săn sóc và chìu chuộng tôi trong khả năng có thể của gia đình.

 

Mẹ tôi là con thứ. Trước khi lấy chồng, mẹ được học chữ Nho và sau này về nhà chồng, lại được ông nội cho đi học thêm quốc ngữ, một trường hợp hiếm có trong bối cảnh nông thôn Việt Nam ngày ấy. Có lẽ nhờ tiếp thu, dù không nhiều, cả hai dòng văn hóa đó, lại sống trong một gia đình nề nếp nên mẹ tôi thường vận dụng lời thánh hiền trong việc dạy dỗ con cái, điều mà chúng tôi ít để ý và phần tôi, mãi đến sau này mới nghĩ ra.

 

Không rõ ngày xưa, khi bắt đầu học chữ Nho, mẹ có bắt đầu bằng Tam thiên tự hay không nhưng điều chắc chắn là bà thường nói nhiều về Minh tâm bửu giám (quyển sách mà khi bắt đầu kiếm được những đồng tiền đầu tiên trong cuộc đời, tôi đã mua để tặng mẹ). Những ngày còn ở bên mẹ hoặc về thăm nhà sau một tuần lễ trọ học, thường nghe mẹ nói với tôi hoặc khi đàm đạo với khách hàng những câu rút từ Minh tâm bửu giám để khuyên răn hay lý giải một điều gì đó trong cuộc sống đời thường.

 

Như bất kỳ một chú bé nhà quê nào khác, những trò chơi ấu thơ của tôi cũng theo thời vụ: bắt cào cào, châu chấu, đá banh, thả diều, bắt ve sầu . . . Tôi ít được chơi hoàn toàn tự do thỏa thích như những bạn đồng lứa vì bị mẹ “kìm kẹp” nhắc nhở.

 

Còn mãi một ấn tượng sâu sắc, ảnh hưởng đến tình cảm, tính cách tôi sau này là lần dùng ná cao su bắn chết một chú bồ chao trên cành mận thấp trước sân nhà. Khi tôi phát hiện ra thì hai chú chim con đang được mẹ mớm mồi và tập chuyền cành. Sau khi bắn rơi con chim mẹ, tôi mang vào khoe thành tích với mẹ để chuẩn bị chạy ra hạ tiếp cả bầy. Mẹ nhìn xác con chim, không nói lời nào, có vẻ buồn buồn, mãi một lúc lâu sau mới hỏi: “Giả sử mẹ kiếm thức ăn về cho con, đến nhà, một người nào đó chờ sẵn và bắn chết mẹ thì con lúc đó sẽ như thế nào? Bây giờ con lại còn muốn bắn chết con chim bố khi đang kêu khóc về cái chết của vợ mình!” Phải nói thật lòng, lúc đó mặc dầu hiếu thắng nhưng tôi vẫn cảm được điều mẹ nói và thấy xấu hổ, để rồi từ đó về sau, tôi không bao giờ còn có ý định bắn chim nữa.

 

Một trưa hè nọ, ở nhà chỉ có hai mẹ con tôi. Không gian rộng lớn và vắng vẻ tràn đầy tiếng ve rên rỉ ngoài vườn. Tôi ngồi chơi khi mẹ đang khâu vá ngoài hiên. Không hiểu sao trong tâm trí cậu bé non nớt ấy thoáng hiện lên ý nghĩ về cái chết. Tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, chết là gì? Chết rồi, người ta sẽ đi về đâu?” Mẹ bảo: “Con còn nhỏ quá, hỏi điều đó làm gì ? Bây giờ cha đã mất, các anh chị rồi sẽ có vợ, có chồng. Ai rồi cũng phải lo cho gia đình họ. Còn con, giờ phải gắng học để sau này khỏi khổ”. Có lẽ, với tôi đó là lần nhắc nhở quan trọng nhất, lớn lao nhất mà tôi mãi mang theo để định hướng cho đời mình. Sau này, khi lên cấp 3 và cả ở đại học, bà còn nhắc nhở đôi lần nhưng chỉ cần một lần, lần đầu tiên mà tôi đã ghi lại ở trên.

 

Tôi sinh ra vốn nhỏ con, ốm yếu, lúc nhỏ vẫn hay đau vặt, cảm cúm luôn. Mẹ tôi thường phải cạo gió cho tôi, những lúc như thế đau không chịu thấu, có khi phải bò lăn bò càng trên chiếu. Mẹ bảo: “Con cứ tưởng tượng như mình đang làm điều gì sai trái, bị cảnh sát bắt vào tù tra khảo thì sẽ thấy việc mẹ cạo cho con nào có ăn thua gì”. Bà chỉ nói như thế mà tôi “ngộ” hẳn ra để thấy cái đau bỗng nhẹ không. Hoan hô mẹ, mẹ đúng là bà tiên với chiếc đũa phép quá nhiệm màu!

 

 

Bắt đầu năm 1965, chiến tranh lan ra khắp nông thôn miền Nam, gia đình tôi phải về phố tránh bom đạn. Ba gia đình anh chị vẫn ở chung với mẹ và tôi. Nhà không rộng, các cháu lại thường đùa giỡn chọc phá, đuổi bắt nhau, vốn lo sợ các cháu chạy té, mẹ hay nhắc nhở. Lời nhắc lặp lại nhiều lần tôi vẫn nhớ như in: “Vui chừng nào thì buồn chừng đó, cười bao nhiêu thì khóc bấy nhiêu đó cháu!” Sau này khi đã đọc ít nhiều, tôi tự hỏi phải chăng cái tư tưởng âm trung hữu dương căn đã được mẹ “cụ thể hóa” qua lời nhắc đó?

 

Lớn lên, có gia đình, tôi vẫn hay dùng những câu ngày xưa mẹ nói để nhắc vợ con. Đến nỗi, vợ tôi cũng “lậm”, gặp việc lại thốt lên: “Kiến bất thủ như tầm thiên lý” (*).

 

Có dịp tâm tình với mẹ, tôi ta thán về cái nghèo của mình, bà thường an ủi: “Thiên sanh nhân hà nhân vô lộc, địa sanh thảo hà thảo vô căn?”**.  Sau này mỗi lần bế tắc trong cuộc sống tôi lại nhớ mẹ, nhớ lại câu trên để cảm thấy . . . nhẹ lòng!

  

Mẹ ơi, ngày xưa, con cứ tưởng thằng con út ốm yếu này vẫn được ở bên mẹ hoài để được chở che, dạy bảo, săn sóc. Nhưng cuộc đời đã đẩy con đi xa mẹ, từ một tuần của những năm trường huyện đến vài ba tuần của những năm trường tỉnh, đến cả tháng của những năm sinh viên, rồi sau này là miệt mài một hai năm mới về dăm ba ngày với mẹ. Biết mẹ luôn đợi chờ, mong ngóng con cháu về chơi (nhất là những ngày tết, ngày hè), nhưng nợ cơm áo đời thường đã đẩy đưa để rồi dẫu trong lòng không muốn, chúng con bỗng như trở thành những đứa con bất hiếu!

 

Có những năm, đi chùa nhân lễ Vu Lan, được gắn cái bông hồng lên ngực, thấy hạnh phúc vì mình đang còn mẹ nhưng sau đó lại thấm thía buồn vì tính ra mình đã xa mẹ gần bốn mươi năm!

 

Nhà thơ Tường Linh chỉ mới xa mẹ có mấy năm thôi mà đã thốt lên:

 

Mẹ nghìn xa, sáu năm rồi mẹ hỡi

Con không về tóc mẹ trắng nhiều không?

Mùa mưa bấc gió sông Thu lành lạnh

Lửa ai nhen cho mẹ bớt se lòng?

 

Các cháu nay đều rất chăm học và rất thương yêu loài vật. Chỉ cần một câu nhắc qua là các cháu đã tự ý thức. Phải chăng trong chúng có được những tích cách đó là nhờ thừa hưởng gène trội của bà?

 

Ngày xưa khi dạy chúng con điều hơn lẽ thiệt trong cuộc đời, mẹ dẫn cả Minh tâm bửu giám, “giáo án” đó đâu có phần “yêu cầu tư tưởng” phải đạt. Nhưng chính những lời dạy ấy đến bây giờ con vẫn còn nhớ, vẫn thực hiện và dạy lại con cái mình. Tất cả há chẳng nói lên rằng mẹ chính là Cô Giáo Đầu Tiên Và Vĩ Đại Nhất của anh chị em chúng con đó sao?

 

Nguyễn Hoàng Quý

 

(*) Kiến bất thủ như tầm thiên lý: Tạm dịch là thấy (một món đồ, một vật cần dùng bỏ rơi vãi đâu đó trong nhà) mà không cất giữ thì sẽ phải tìm cả ngàn dặm.

 

(**) Thiên sinh nhân hà nhân vô lộc – Địa sinh thảo hà thảo vô căn: Tạm dịch là Trời đã sinh ra người thì không ai là không có lộc (Trời). Đất đã sinh cây cỏ thì không cây cỏ nào không có rễ.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thơ của hai thi sĩ: Trần Yên Hòa & Thy An
Chiếc xe hơi chạy trên con đường hẹp, uốn lượn, hai bên là những cánh đồng lúa mì hầu hết đã được gặt xong, đây đó những bó rơm, cỏ khô được cuộn tròn nằm rải rác, những cánh rừng thưa xanh ngắt, những bụi cỏ lau màu tím hồng phất phơ trong gió, những trang trại với hàng chục con cừu, bò, và cả ngựa đang thong dong gặm cỏ, những căn nhà, quán rượu, nhà thờ…hầu hết được xây bằng đá đã xỉn màu vì thời gian, với những cửa sổ bằng kính có khung sơn trắng và kiến trúc đặc thù của vùng Yorkshire...
Kéo dài được hai năm, cuối cùng thì hắn cũng quyết định bỏ trường để về nhà đi buôn. Đây là một việc cân não mà hắn đã dằn vặt vật vã suốt một thời gian dài. Hắn là sinh viên giỏi, vốn được tuyển thẳng vào trường sư phạm, thật tình mà nói thì hắn muốn vào Bách Khoa chứ chẳng phải sư phạm, chọn sư phạm vì được miễn học phí nên miễn cưỡng chấp nhận...
Em yêu dấu: Anh sẽ kiến giải câu nói thời danh của Marcel Proust (*) để qua đó em có thể cầm nắm được trái tim nóng bỏng của anh trên tay. Marcel Proust nói rằng "Tình yêu là đem không gian đổi lấy thời gian”...
Suốt cả tuần nay Tokyo chỉ có một ngày nắng, hôm nay mưa đã tạnh thì khăn gói về vùng Kyoto/Osaka. Hai tuần nữa khi về lại đây thì những cây đào mượt mà nầy chỉ còn những cành cây cằn cỗi, phủ đầy rêu, trơ trụi. Vì thế mà chuôi kiếm của người samurai thường khắc cánh hoa đào để biểu tượng cho cuộc đời hào hùng, đẹp đẽ mà ngắn ngủi, đầy bất trắc.
Thành phố đầu tiên chúng tôi dự tính đến thăm là Thành phố Philadelphia, một thành phố đã từng là thủ đô của Hoa Kỳ trong thời kỳ đầu lập quốc mà nay nó đã trở thành cố đô. Sau đó chúng tôi sẽ đi thăm một vài di tích lịch sử, văn hoá và thắng cảnh đặc biệt của Tiểu bang Pennsylvania nếu thời gian cho phép...
Trong bầu không khí bị ô nhiễm bởi chiến tranh Ukraine, châu Âu nhất là nước Pháp, vị thế và vai trò của Tông thống Pháp Emmanuel Macron – một trong những cột trụ lãnh đạo Liên minh châu Âu – không ngừng bị thử thách. Thêm vào đó, bóng dáng của dịch bịnh Covid-19 vẫn còn lảng vảng đâu đó trong các quốc gia châu Âu. Trong tình trạng như vậy, sinh hoạt văn học nghệ thuật của châu Âu, nhất là của Pháp, vẫn không ngừng phát triển...
Thầy ngồi trên kia, sau cái bàn rộng, chỉ có một quyển sách mỏng trước mặt và không thấy ông mở ra. Như thói quen, ông không viết bài, viết dàn bài trên bảng, phấn với bảng ít khi ông dùng tới, có thể tất cả đã được sắp xếp chuẩn bị chu đáo và có lớp lang trong đầu ông. Đúng vậy, ông vẫn từ tốn nói theo những ý nghĩ dường như vẫn có sẵn trong tâm trí. Ông nói không vấp váp, từ từ, lôi cuốn và thuyết phục. Ông có một « schéma » trình tự đi tới, đi tới không hề áp đảo...
Sau 1975 những người còn ở lại miền Nam Việt Nam không biết những ai đã nghĩ ra và những ai đã là người đầu tiên ra khơi vượt biển đi tìm tự do, để cho dòng người đi sau tiếp nối không bao giờ ngừng nghỉ nếu các trại tị nạn không đóng cửa chấm dứt chương trình cưu mang những người vượt biển. Ai cũng mơ ước, cũng tính đường đi tìm tự do tùy theo hoàn cảnh khả năng tài chính của mình. Bao nhiêu người đã may mắn đến bến bờ và cũng bao nhiêu người bất hạnh bỏ xác ngoài biển khơi!
Ở xóm tôi, từ đầu xóm đến cuối xóm, hầu như nhà nào cũng có người đi vượt biên. Nhưng không phải ai cũng may mắn đến bờ tự do, bởi nếu đếm số người “đi không về và cũng không bao giờ đến” ở xóm cũng cỡ hai chục mạng người, trong đó có cô bạn rất thân yêu của tôi và một gia đình mất một lúc sáu người, đó là gia đình Bà Già Gân...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.