Hôm nay,  

Cám ơn Mẹ

02/09/202221:09:00(Xem: 4804)
Truyện ngắn

autumn leave

 


Sau 21 năm kết hôn với người bạn đời, tôi bắt đầu tìm thấy một ánh sáng tình yêu rất mới lạ.

 

Thật vậy, tôi đi với một người đàn bà không phải vợ mình, và đó là do cô ấy đề nghị:  "Em biết anh yêu người ấy vô cùng!"

Người phụ nữ mà vợ tôi muốn tôi đi chơi cùng, đó là mẹ tôi, bà đã là góa phụ từ 19 năm, nhưng do những nhu cầu của cuộc sống, với ba cháu nhỏ và nhiều trách nhiệm khác về công việc, những lần tôi đến thăm cụ thật là hiếm hoi.

 

Một hôm tôi gọi bà và mời mẹ đi ăn tối. Bà hỏi: "Con khỏe không?" Bà rất ngạc nhiên khi thấy tôi gọi cho bà vào giờ khuya khoắt như thế. Bà lo âu, nhưng tôi đã trấn an mẹ: "Dạ thưa mẹ, con rất khỏe, con chỉ muốn đi chơi với mẹ một lúc thôi, mẹ ạ" "Chỉ có con và mẹ thôi sao?" Bà hỏi và trở nên trầm ngâm…

 

Ngày thứ Năm, khi xong việc sở, tôi đến đón mẹ ở nhà bà. Tôi cảm thấy bồn chồn. Và khi gặp mẹ, tôi cũng nhận thấy mẹ có vẻ không an tâm. Mẹ đứng chờ tôi trước cửa, và nhìn xem, mẹ ăn mặc chải chuốt quá sức! Hình như đó là chiếc váy cuối cùng cha đã mua tặng mẹ trước khi ông ra đi. Mẹ nói với tôi, vừa mỉm cười, vẻ trìu mến: "Con biết không mẹ đã khoe với mọi người rằng hôm nay con trai sẽ đón mẹ đi chơi với con đó. Họ đều rất vui mừng và đang nóng lòng chờ đợi câu chuyện mẹ sẽ kể cho họ nghe khi mẹ về lại nhà".

 

Chúng tôi đến một nhà hàng rất đặc biệt, yên tĩnh và sang đẹp. Mẹ vịn vào cánh tay tôi, như thể mẹ là Đệ Nhất Phu Nhân vậy. Chúng tôi tìm bàn ngồi, và tôi đọc thực đơn cho mẹ, vì mẹ chỉ đọc được những hàng chữ in lớn. Mẹ nhìn ngắm tôi với nụ cười mãn nguyện trên đôi môi đã có nhiều nếp nhăn... Mẹ nói: "Ngày xưa con còn bé mẹ thường đọc sách cho con nghe". Tôi bảo mẹ: "Đã đến lúc con phải làm điều gì nhỏ bé để đáp lại tất cả những gì mẹ đã hy sinh cho con, mẹ ạ. Mẹ đừng lo, mẹ nhé".

 

Mẹ và tôi nói chuyện rất nhiều trong suốt bữa ăn. Chỉ là gợi lại những chuyện xưa cũ, và những sự việc mới xảy ra. Cứ như thế, và thời gian trôi qua rất nhanh, chúng tôi cũng không để ý rằng bây giờ đã quá nửa đêm...

 

Lúc về nhà, mẹ đứng ở ngưỡng cửa và bảo tôi: "Mẹ sẽ rất vui nếu sắp tới đây con và mẹ sẽ đi cùng nhau nữa, nhưng lần này mẹ sẽ thanh toán hóa đơn, con nhé!" Tôi ôm hôn tay mẹ và chào mẹ.

 

Vài ngày sau đó, mẹ tôi bị nhồi máu cơ tim và qua đời. Sự việc xảy ra quá nhanh làm tôi không kịp phản ứng như thế nào cả. Không lâu sau đám tang mẹ, tôi nhận được thư của nhà hàng mà trước đây mẹ cùng tôi đến vào buổi tối. Nét chữ thân thương của mẹ ghi rằng: "Mẹ biết lần sau này mẹ sẽ không dự được... Mẹ đã trả phần ăn cho hai người, vợ con và con. Con không biết buổi tối hôm đó quan trọng như thế nào với mẹ đâu, con ạ. Mẹ rất yêu con, con trai của mẹ!"

 

Lúc đó, tôi thật sự hiểu một cách sâu sắc nghĩa của từ "Yêu", và "Mẹ yêu con", và khi ta nói yêu ai thì lời nói ấy mang cảm xúc như thế nào cho người nhận.

 

Bạn ơi, đấng sinh thành là quan trọng trên hết mọi sự, nhất là mẹ hiền của ta. Các bạn hãy dành thời gian cho họ, họ xứng đáng được trân trọng như thế. Đó là quyền lợi Thiêng Liêng và của riêng họ, và việc này không thể bị trì hoãn vì bất cứ lý do nào.

 

Sau khi đọc xong câu chuyện này, tôi nhớ đến người bạn của  Abdallah ibn Omar, anh ta hỏi: "Mẹ tôi cao tuổi lắm rồi, và không thể tự di chuyển được nữa. Bà ấy hoàn toàn phụ thuộc vào tôi về những nhu cầu hằng ngày của bà. Tôi phải cõng bà đi mọi nơi, ngay cả đi vệ sinh; có khi bà không thể nhịn được và đi cả trên người tôi trong khi tôi đang mang bà trên lưng; bạn nghĩ  như vậy tôi đã trả được nợ đối với mẹ mình chưa?"

Abdallah ibn Omar trả lời: "Cậu còn chưa trả được một lần đau co thắt trong vạn lần đau đớn khi mẹ cậu sinh cậu ra nữa kìa! Vì khi cậu phải chịu bà như vậy, cậu chỉ cầu mong sao bà ấy chết quách để cậu khỏi phải ôm gánh nặng nghìn cân đó, còn lúc xưa khi cậu còn nhỏ cậu cũng vãi đầy trên người mẹ, thì mẹ cậu lại mong cậu sống và khôn lớn".

 

– yabiladi

(Tháilan dịch)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.