Hôm nay,  

Mồ chôn tình yêu

01/10/202211:21:00(Xem: 3813)

Truyện ngắn

couple-in-trouble

Thế rồi cái ngày mơ ước ấy cũng đến, đám cưới thật linh đình, nhạc xập xình mấy ngày liền. Y rạng rỡ hanh phúc, dáng thẳng thớm hãnh diện làm cây tùng bên cô dâu e lệ khép nép. Họ hàng và bạn bè chúc tụng quá trời, hoa lá bày biện khắp trong nhà ngoài ngõ, quà cáp, bao thơ ngập mặt luôn. Y ngỡ mình đang ở thiên đàng, một thiên đàng sung sướng hạnh phúc có thật trên mặt đất. Y thầm nghĩ mình có phước cưới được vợ hiền, cuộc sống phong lưu đầy đủ, đời đẹp như thế thì còn có gì hơn!

 

Thế rồi những ngày trăng mật cũng qua nhanh như nước chảy qua cầu. Y trở lại mặt đất bước ra khỏi thiên đàng để tiếp tục cuộc sống thực tại, tuy nhiên dư âm mật ngọt của thiên đường vẫn còn nên cứ tủm tỉm cười một mình, mặt mày sáng láng tươi tắn chưa có dấu hiệu gì để nhận biết là khuôn mặt của đời thường. Y thường đọc sách và nhớ đâu đó bên tây hay bên Tàu có danh nhân đã từng nói: “Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu”hoặc giả là “Hôn nhân là dịch bài thơ ra văn xuôi”… Y không tin, y phản bác mạnh lắm. Y bảo: “Chắc khứa lão nói câu ấy bị bà hành quá nên quạu”. Ngay từ hồi còn yêu chưa cưới vợ, y đã tin chắc là vị danh nhân nào nói câu đó hoàn toàn sai, chỉ vì ông ta không được hạnh phúc trong đời sống vợ chồng.

 

Thế rồi thời gian qua mau như nước chảy mây bay, trăng mật ong dần dần chuyển thành mật gấu, mật cóc, mật cá trắm...Y thấm dần, cứ như thể mưa dầm thấm lâu, sự cảm nhận thẩm thấu  mật gấu của y cũng thế, từ từ từng chút một, ấy vậy mà cũng đến lúc đầy lên tận cổ.

 

Thực tình mà nói thì vợ y cũng xinh, mắt môi thanh tú, dáng nhỏ lưng ong, đã thế hay lam hay làm, đảm đang chăm chỉ, thủy chung, đứng đắn, đo ngắn cắn dài, ghen dai nhớ kỹ, tính toán chi li, diễn suy bá láp, rập khuôn thủ cựu… hễ y mà ra khỏi nhà là lập tức điện thoại cầm tay đổ chuông liên hồi, vợ gọi tới tấp, bất kể giờ giấc nơi chốn mà y đang có mặt. Y từng nhắc vợ đừng gọi khi đang bận họp, vợ không quan tâm. Khi đang lái xe, vợ cũng mặc kệ. Vợ gọi là gọi, nhiều lúc đang nhậu với bạn bè, vợ gọi gắt quá. Bạn nhậu cười: –

 

– Rồi, bà lớn đang nóng ruột, mẹ thằng cu sợ bố thằng cu ngửi hoa bắt bướm.

 

Bạn nhậu ghẹo quá, y bèn tắt điện thoại cá nhân, đêm ấy về, vợ không mở cửa, y phải dùng chìa khóa phụ để mở cửa vào, cả mấy ngày sau tổ uyên ương lạnh như hang băng của gấu tuyết. Vợ đóng mặt lạnh như hình sự điều tra. Y phải thấp giọng hạ mình xuống năn nỉ:

 

– Em yêu, anh chỉ nhậu với bạn bè thôi mà! Hổng có bướm hoa gì hết ráo.

 

Y kì kèo năn nỉ mãi vợ mới chịu mở miệng, lên giọng:

 

– Tại sao anh không bắt phone?

 

– Em gọi nhiều quá, bạn bè ghẹo nên anh mới tắt máy.

 

– Anh coi bạn hơn vợ à?

 

– Đâu phải vậy, bạn là bạn vợ là vợ, sao mà so sánh được hả?

 

– Anh trọng ăn nhậu bù khú bạn bè hơn vợ ở nhà, vậy anh theo bạn nhậu luôn chứ về làm gì?

 

– Hổng phải đâu em, vợ là nhất rồi nhưng sống ở đời cũng cần có bạn bè giao tiếp chứ!

 

– Bạn gì? Toàn bọn ăn nhậu dê xồm, uống đã đời rồi gái gú bậy bạ ai mà biết.

 

– Trời, nhậu vui thôi em, rất trong sáng, hổng có gái gú ghệ gì đâu.

 

– Ai àm biết được nhóm đàn ông mấy anh, ngoài bàn nhậu thì sáng mà trong phòng tối hù, coi chừng có ngày bị si đa, giang mai, lậu… à nha.

 

Có những ngày sau buổi làm việc, y đi tập gym cho khỏe mạnh, bớt uể oải sau những giờ ngồi lì ở văn phòng. Vợ chẳng những không thông cảm mà lại còn mỉa mai:

 

– Tập tành gì? Bày đặt đi gym để đàn đúm, hổng chừng đi riết rồi thành bóng xà bang.

Vợ nói mặc vợ, y cứ đi tập gym sau mỗi buổi làm, vợ nói riết mỏi miệng thì thôi. Y tham gia mấy nhóm văn thơ trên mạng, cũng sáng tác tối tạo dăm ba bài thơ cho vui vẻ, nâng cao thẩm mỹ và đời sống tinh thần. Vợ thấy thế dè bỉu:

 

– Văn thơ ấm ớ phù phiếm, toàn mấy trự lãng mạn rồi ngoại tình tư tưởng, thủ dâm tinh thần…

 

Nghe riết rồi quen, tuy nhiên nhiệt huyết tham gia hoạt động xã hội cũng tiêu tan, Y đi làm về nằm nhà ôm tivi hay laptop cho nó lành, ấy vậy mà cũng không yên với vợ. Vợ nghi ngờ:

 

– Dạo này thường xuyên siêng lên mạng quá hén! Chắc là tìm gà tơ, mèo non hay nạ dòng? Suốt ngày chát chít tầm phào vô tích sự!

 

Đến nước này thì y giơ hai tay kêu trời, thiếu điều khóc rống lên ba tiếng rồi cười khàn ba hơi như những chí sĩ chịu oan khốc vì quốc gia đại sự.

 

Thế rồi cuộc sống cứ như thế, những cuộc chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh liên miên, ba ngày tiểu chiến bảy ngày đại chiến. Y cố sức nhịn nhục nhưng vợ chẳng biết điều, càng ngày càng làm già. Y muốn ấm êm trong gia đình nhưng vợ ngỡ mình là bà chủ nên ngày càng quá quắt, nhiều lúc y thấm mệt muốn buông mà vợ lại không hiểu nên càng quản chặt hơn. Tiền bạc tiếng là của chung nhưng vợ giữ khư khư như mèo giấu cứt, mỗi tuần vợ nhét vào bóp của y một khoản nhỏ đủ để cà phê thuốc lá thôi. Nhiều lúc y muốn làm việc nọ việc kia hay giúp người này người khác thì đành bó tay, hễ đụng đến tiền là vợ tru tréo lên làm như đói kém khổ sở ngay lập tức vậy.

 

Một hôm y định nói với vợ về quê thăm bà già ít ngày, vợ y lập tức dảnh mỏ:

 

– Bày đặt thăm bà già, bả sờ sờ ra đó chứ có mất cộng lông nào, chẳng qua là lấy cớ đề về thăm con mèo hồi xưa chứ gì.

 

Y không muốn nói gì nữa, biết có nói cũng vô ích, chỉ tổ hại thần mệt thân, nói với cái đầu đông đặc của vợ thà nói với đầu gối của mình còn hơn, trong người tức tối bực bội, một khoảnh khắc vô thức y lầu bầu:

 

– Phụ nữ trước khi cưới là con mèo dễ thương mướt mát, sau khi cưới về thì thành sư tử hết ráo, xù lông trông dữ như cọp beo, mè nheo như vịt cạp.

 

Vợ nghe thấy, lập tức giãy đành đạch:

 

– Anh nói ai sư tử? Ừ, tui là sư tử đó thì sao? Tui sư tử tại vì anh dê xồm, heo nọc.

 

Y không tranh cãi với vợ, chỉ nói khơi khơi như thể bâng quơ:

 

– Con mèo nhỏ nhẻ khiến người ta thương, sư tử xù lông gầm gừ chỉ tổ khiến người ta ngán mà thôi! Khôn ngoan thì cứ làm con mèo ỏn ẻn vẫn hay hơn là sư tử

 

– Tui làm sư tử để giữ hạnh phúc gia đình, tui mà hổng xù lông nhím thì mấy con mèo, mấy con gà móng đỏ khác nó đã phá nát gia đình rồi.

 

– Sư tử nào giữ được hạnh phúc gia đình? Nó khiến cho hạnh phúc bỏ chạy thì có!

 

– Vậy giờ anh muốn gì?

 

– Chẳng muốn gì ngoài hạnh phúc ấm êm như lúc trước.

 

Nói xong y bỏ đi, y biết cãi một lúc nữa thì đĩa bay xuất hiện và cảnh quan trong nhà sẽ giống như bề mặt sao hỏa hay mặt trăng. Sự việc cứ cù nhầy dây dưa buông chẳng đặng dứt không ra. Y vẫn thế, vợ vẫn vậy. Vợ kiểm soát từng chi tiết mặc cho y góp ý hay phản đối và ra tuyên bố quan ngại, cực kỳ quan ngại. Y nhiều lần nhắn tin vợ phải bỏ qua tiểu tiết để giữ lấy đại cục, phải thực hiện tứ tốt thập lục hảo thì gia đình mới hạnh phúc và hữu hảo. Ấy vậy mà vợ chẳng nghe, vẫn chứng nào tật đó, thậm chí càng ngày càng quá quắt hơn, khi thì rình mò xem lén trang mạng cá nhân của y, dò từng tin nhắn của mọi người gởi đến, lúc thì nghe lén khi y phone cho người khác. Có khi y vừa lái xe về thì vợ sờ ghế kế bên xem thử có ấm hay không, nếu còn ấm thì tra vấn đã chở con mèo ỏn ẻn hay con gà móng đỏ nào phải không? Vợ còn xem cây kim bình xăng xuống đến đâu, số dặm hôm nay chạy bao nhiêu, nếu nhiều dặm hơn bình thường thì hôm nay đã đi đâu? Rồi vợ kiểm tra xem có rút tiền trong nhà băng hay không, xét chỗ giấu tiền mặt trong nhà có bị mất dấu hay không...Y biết hết cả nhưng cứ giả dại để qua ải. Mặc dù nhịn như vậy, cố giữ như vậy nhưng vợ không hiểu, không chịu từ bỏ làm sư tử. Nhiều lúc y tự an ủi bản thân: “Có lẽ đã trở thành sư tử rồi thì không thể trở lại làm mèo”. Những lúc rảnh rỗi vợ  vẫn thường khơi khơi:

 

– Mấy con mèo ỏng ẻo nhõng nhẽo coi vậy chứ bạc lắm, hết tiền là nó bỏ ngay lập tức!

 

– Sao em hổng làm mèo mà làm sư tử chi cho mệt vậy?

 

– Í, đâu có được! Em phải làm sư tử để canh chừng những con mèo đó!

 

– Em cứ là mèo thì những con mèo khác cũng chẳng dám bén mảng tới đâu!

 

– Không được! Em phải làm sư tử mới trị được bệnh dê xồm ong bướm…

 

Thế là sự thể vẫn y nguyên như cái tên nguyễn y vân của y. Y ngán ngẩm dễ sợ, y thấy đời mình đã dịch bài thơ lãng mạn ra văn xuôi rồi, dịch một cách sát nghĩa và trần trụi luôn. Thỉnh thoảng y đùa với bạn bè: “sáng chở cơm đi ăn phở, tối chở phở đi ăn cơm”. Y chỉ có cơm mà là cơm khê nhão mới chết chứ! Trong những lúc bí bách y thầm nghĩ: “Hay là ta đi tìm phở ăn cho bỏ ghét?”nghĩ thế thôi chứ y chưa bao giờ làm vậy. Y thương vợ, thời đại này là thời đại nam nữ bình quyền, thời đại "Lady first". Ngày xưa ông bà mình cũng từng trải kinh qua quá trình dịch bài thơ ra văn xuôi nên đã thấm thía: "Nhất vợ nhì trời”. Ông trời mà còn đứng hàng thứ hai sau vợ thì phải biết, những con sư tử Hà Đông với giấm chua nó ghê gớm như thế nào. Hễ nhớ đến câu “nhất vợ nhì trời”thì y cảm thấy khoái dễ sợ, thấy được an ủi vô cùng. Các cụ tổ Adam nhà mình đã bị các cụ bà Eva hành cho lên bờ xuống ruộng, các lão bà bà ngày xưa cũng đã là những con mèo ỏng ẹo trước khi cưới và trở thành sư tử ngay sau ấy. Nghĩ đến đây y sanh khâm phục khứa lão danh nhân nào đó đã mạnh mồm tuyên bố: “Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu”, tuy nhiên y muốn đính chính tí xíu: Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu nhưng trong mồ ấy lại đầy thú thương đau ai cũng phải trải qua, càng đau thương thì càng thương mà đau và cũng chẳng có khứa lão hay đực rựa nào đủ can đảm từ chối thú thương đau này! Cũng chả có mấy ai thoát khỏi nấm mồ này, may ra chỉ có những vị tu sĩ". Hỡi những chú nhóc tơ mới lớn  chớ vội săn cho được con mèo bé bỏng để rồi sớm muộn gì nó cũng biến thành con sư tử Hà Đông một khi dại dột cưới về.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 09/22)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.