Hôm nay,  

Cà phê dĩ vãng

06/10/202221:08:00(Xem: 4296)

Truyện ngắn


ca-phe 


Thành ngồi yên lặng trong góc quán cà phê quen thuộc, phải nói là thân thuộc mới đúng. Nơi này đã chứng  kiến bao nhiêu kỷ  niệm của chàng từ thuở tóc xanh cho đến lúc phai màu. Quán đã trải qua bao đời chủ, qua bao thăng trầm của lịch sử, được sửa đi, sửa lại nhiều lần, nhưng lần nào về ngồi lại nơi này, chàng luôn có cảm tưởng như một người về lại căn nhà cũ thân thương sau bao tháng ngày nhung nhớ. Hôm nay, Thành trở lại với một tâm trạng thật buồn: Chàng vừa hoàn tất xong thủ tục li dị với Thu Hằng, cô vợ trẻ đẹp, lại có giọng hát hay như ca sĩ làm chàng  mất cả linh hồn khi lần đầu tiên gặp gỡ ở một tiêm karaoke đèn mờ trong một lần về nước bị đám bạn rủ rê đi... rửa mắt. Thành không thể quên được thời gian đó, chàng đã tả xông hữu đột, chiến đấu không mệt mỏi để đánh bại bao đối thủ vây quanh người đẹp, nhưng đối thủ nặng ký nhất (hiểu theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) lại là Thuý Lan, vợ chàng. Cuối cùng nhờ danh hiệu bác sĩ lại có phòng mạch riêng, tiền bạc dư giả, những đối thủ kia đều lượng sức mình nên lần lượt bỏ cuộc. Thuý Lan cũng đầu hàng vì biết rằng có đi hết cả thẩm mỹ viện trên thế giới này cũng chẳng thể nào kéo lại được hơn 20 tuổi xuân xanh như đám cỏ non phơi phới kia, nên đành an phận với căn nhà và số tiền bồi thường đủ sống thỏa thuê cùng con cháu đến cuối đời. Phải mất gần bốn năm năm công sức  cả về vật chất lẫn tinh thần chàng mới... ẵm được người đẹp Thu Hằng từ quán karaoke đèn mờ Việt Nam qua chốn đèn... cao áp của nước Mỹ.

 

Những giọt cà phê vẫn chậm chạp rơi đều như những giọt đắng của đời chàng. Thành lơ đãng nhìn ra ngoài đường, dòng xe cộ tấp nập. Sài Gòn của chàng đó muôn đời sống động, nhưng với chàng hình như đã chết hẳn tình thương. Chàng nghe như có cái gì đó chơi vơi, trống trải trong tâm hồn, cứ tưởng rời Mỹ về lại Việt Nam thì có thể quên đi phần nào nỗi đau và sự nhục nhã của cuộc hôn nhân ngu muội. Nhưng giờ ngồi đây, mọi việc quay lại như một cuốn phim khá rõ nét trong tâm tư của chàng. Chợt có tiếng chuông điên thoại reo, Thành uể oải nhấc máy, tiếng một gã bạn cũ rủ rê đi nghe nhạc hay đi karaoke tối nay. Vừa nghe xong, chàng đã nổi nóng cố kìm tiếng chửi nặng chỉ chực tuôn ra trong cơn giận dữ. Chàng thật không sao hiểu được có nhưng người không hề biết đau thương và liêm sỉ là gì bởi họ sẵn sàng lăn lóc từ những cuộc tình nhơ nhuốc hết quán bia đến phòng trà rồi karaoke, họ bị phụ bạc, mất trắng nhưng rồi lại lao đầu vào như những con thiêu thân vậy.

 

Chàng về lại Việt Nam, tìm sự bình yên nơi quán cà phê đầy kỷ niệm của tuổi trẻ hồn nhiên trong trắng, với một mối tình đầu thanh cao không vướng chút bụi đời. Bao lần rồi chàng đến đây, ngồi một mình cùng ly cà phê nóng mơ màng thả hồn về dĩ vãng, mỉm cười một mình, suy tư một mình và thưởng thức cảm giác yên tĩnh một minh. Nhưng lần này thì không, càng cố quên chàng càng nhớ đến THU HẰNG với sự THÙ HẰN còn in đậm trong tâm trí. Chàng đã yêu quý, chiều chuộng cô ta chỉ với ước mơ có một ca sĩ của riêng mình nên mới cất công đem cô ta sang đây. Ai ngờ, cô sửa soạn, tiêu xài xa hoa cho sắc đẹp của mình để đi hát cho kẻ khác nghe. Chàng tỏ vẻ ghen tuông thì cô ta càng làm tợn hơn nữa. Thời buổi công nghệ thông tin mà, đời nào cô chịu yên phận với một “nạn nhân” gầy gò, tuổi đời hơn cả bố mình, chi tiêu lại không rộng rãi như cô mơ ước, thế là cô tìm bạn, suốt  ngày lướt Facebook để biết thông tin về thủ tục li dị, rồi sau đó làm sao để tiếp tục được ở lại Mỹ. Sự lạnh nhạt xa cách của cô ta làm Thành điên tiết, nhưng không làm gì được. Cuối cùng bác sĩ Thành lại phải đi bác sĩ tâm lý để chữa bệnh căng thẳng thần kinh. Sau ba năm khi cô ném tờ giấy xuống bàn và hất hàm bảo Thành ký. Chàng biết thừa đó là giấy gì nhưng vẫn hỏi:

 

– Giấy gì vậy? Tại sao tôi phải ký?

 

– Giấy li dị – Cô ta lạnh lùng nói – Anh không ký cũng chẳng sao nhưng sẽ trả giá rất đắt

– Thật là con khốn nạn, đồ rác rưởi, vô liêm sỉ –  Thành hét lên uất ức.

 

Thu Hằng hiền dịu, nũng nịu thỏ con ngày nào chợt hiên nguyên hình là môt ả Hồ Ly sắc sảo và tàn độc. Cô ta chỉ tay vào mặt Thành nói từng câu như, từng mũi dao nhọn xoáy thẳng vào tim chàng đau nhói:

 

– Nè ông già ngu xuẩn kia! Uổng công cho ông ăn học thành bác sĩ nhưng cũng chẳng khác gì con bò trong mắt tôi. Ông tự soi gương coi mình là ai mà dám đem con này sang để sở hữu một mình? Ông chửi ai khốn nạn? Chính những hạng khốn nạn như ông về Việt Nam để thỏa mãn thú tính mới đẩy bọn tôi vào con đường này. Nếu các ông thực sự yêu quê  hương dân tộc sao không đi tìm những nơi dân tình lầm than mà giúp đỡ? Nếu các ông không khốn nạn thì tại sao bỏ vợ hiền con ngoan, đem tiền của nạp mạng cho bọn tôi? Nếu các ông không khốn nạn thì tại sao toàn đem tuổi trẻ của bọn tôi ra như một thú vui để đáp ứng nhu cầu dơ bẩn như những con vật? Ông và những kẻ như ông liệu có xứng đáng để bọn tôi quý trọng ăn đời ở kiếp không? Ông chửi ai vô liêm sỉ? Chính ông và những hạng người như ông làm gì có liêm sỉ nên mới lao vào chốn ăn chơi sa đọa, cưới về một người đáng tuổi con cháu ông. Đó là tình yêu hả? Liêm sỉ gì? Cái thứ liêm sỉ của ông tôi vứt ra đường chưa chắc chó nó thèm nhìn? Ông chửi ai rác rưởi? Tôi không biết bác sĩ như ông danh giá chỗ  nào? Sạch sẽ chỗ nào? Chui vào chỗ đèn mờ ông cũng là một thứ vi trùng rác rưởi mà thôi. Vì sao? Tâm ông bệnh hoạn, thân ông cũng bệnh luôn, làm gì có tình yêu trong sạch khi những người như ông ôm ấp môt người đàn bà đã qua tay biết bao người trước đó rồi. Ông mà có liêm sỉ thì đi làm từ thiện, đọc sách, đi du lịch hay tìm đến nhưng nơi tôn nghiêm thanh tinh, sống cuộc đời thanh cao. Đằng này, ông không đem tiền ra giúp đỡ những kẻ khốn cùng lại sẵn sàng chi mạnh tay cho những người như bọn tôi. Ông có biết là trước khi lăn lóc vào con đường này, bọn tôi từng là những kẻ khốn cùng không? Nếu ông và  những người như ông mà đem tiền bạc ra xây trường học, cấp phát học bổng cho học sinh nghèo, đem kiến thức dạy dỗ người hay ít ra là tấm gương trong gia đình nhỏ của mình thì đó mới gọi là: có liêm sỉ. Ông nghĩ xem, ông vừa khốn nạn, vừa vô liêm sỉ, vừa như một thứ rác rưỡi đầy vi trùng, liệu tôi có thể sống tiếp tục với ông không? Ông và những hạng người như ông lại ngu xuẩn đến nỗi nghĩ rằng tiền có thể buộc chân được bọn này sao? Ông có, người khác có nhiều hơn, còn tinh thần của ông, thế giới của ông làm sao hợp với những người cách ông cả một thế hệ, thậm chí là hai hoàn cảnh sống khác biệt. Ông chỉ biết thoả mãn nhu cầu tình, còn bọn tôi là tiền và còn nhiều thứ khác nữa, với tuổi đời như các ông thì đáp ứng được bao lâu? Đừng chửi ai, hãy tự chửi cái ngu của mình trước đã!

 

Cả bầu trời như tối sầm ngay trước mặt mỗi khi Thành chợt nhớ lại những lời nói độc địa kinh hoàng của người đẹp karaoke ngày  nào. Chợt cả quán cà phê bừng lên như có ánh nắng đầu  xuân bừng chiếu vì Thành thấy có hai phụ nữ vừa bước vào, người phụ nữ đứng tuổi đi trước có một khuôn mặt quen quen mà có lẽ cả đời chàng không bao giờ quên được.Thành bật gọi:

 

– Mỹ Hạnh !

 

Cô giật mình quay lại nhìn chàng đăm đăm rồi reo lên mừng rỡ:

 

– Anh Thành! Phải là anh không?

 

Trước sự ngạc nhiên của người phụ nữ trẻ đi cùng, cô kéo ghế ngồi ngay cạnh Thành tíu tít thăm hỏi. Chàng cũng vui mừng quá đỗi nên cứ ngẩn ngơ tưởng như đang nằm mộng. Mỹ Hạnh, hoa hậu trong lớp ngày xưa, một thời hoa bướm tươi đẹp với những ngày dối bố mẹ đi học thêm để hẹn hò cùng nàng. Rồi những đêm đưa nàng về, Thành đứng thật lâu dưới đường ngước nhìn lên khung cửa sổ vẫn còn ánh đèn như lời nhắn nhủ: Em vẫn chờ anh! Sau ngày mất nước, cả hai cũng mất liên lạc với nhau. Căn biệt thự của gia đình nàng bị tịch thu, bố đi học tập cải tạo, anh trai chết trận, chị dâu nghe nói cũng chết vì sinh khó đứa con thứ hai hay là do chị buồn quá nên chết? Cả gia đình nàng tan tác. Thành may mắn vẫn học tiếp đại học rồi tốt nghiệp vài năm sau đó. Dòng đời đưa đẩy Thành tình cờ nhìn thấy Mỹ Hạnh ngồi trước quầy bán thuốc lá nhỏ, bên cạnh là một đứa bé xinh xắn nhưng có vẻ gầy guộc vì thiếu ăn. Chàng định tiến lại nhưng rồi ngập ngừng, cuối cùng thì ngoảnh mặt đi thẳng với trái tim tan nát vì thương cảm mà chẳng giúp được gì. Mỹ Hạnh đã có chồng, chàng phải chấp nhận sự thật cay đắng này, nhưng chàng cũng cảm thấy an ủi vì ít ra trong thời buổi khó khăn đó, nàng cũng có nơi nương tựa. Quay sang cô gái đi cùng, Mỹ Hạnh nói:

 

– Anh còn nhớ bé Thanh Ly không? Nhỏ con đầu của anh Hưng anh trai của em đó.

 

Thành à lên một tiếng rồi vui vẻ nói:

 

– Trời ơi! Anh nhớ chứ, nhưng ngày xưa bé Ly mới được hai, ba tuổi gì đó. Thấm thoát mà đã hơn 40 năm qua rồi.

 

Mỹ Hạnh thở dài buồn buồn:

 

– Vâng! Mới đó mà đã hơn 40 năm rồi.Hồi đó, nhà em còn lại bốn người: hai mẹ con em, bé Ly và thằng Hùng, con út của anh Hưng, tội nghiệp nó, mới sinh ra đã mồ côi cha mẹ. Có thời gian từ kinh tế mới về, em tá túc nhờ bên ngoại bé Ly, vừa bán cà phê, thuốc lá, vừa trông cháu. Thời gian đó, em nhớ đến anh, rồi chợt nghĩ nếu như anh nhìn thấy, chắc anh tưởng là em đã có gia đình.

 

Vì ngồi khuất trong góc, ánh đèn của quán cà phê lại mờ nên Mỹ Hạnh không để ý nét mặt của Thành. Lời tâm  sự của nàng làm Thành choáng váng, tiếng kêu trời tắt nghẽn trong tim, chàng tự biết dù có trách mình đến đâu thì cũng quá muộn rồi. Mỹ Hạnh hình như cũng quá xúc động khi nhắc đến thời gian đó, nàng lấy khăn chậm nước mắt. Cả ba cùng  im lặng một lúc, cô cháu gái tên Ly giờ mới tham gia câu chuyện khi Thành chuyển sang đề tài khác cho Mỹ Hạnh bình tĩnh lại:

 

– Tội nghiệp hai chị em Ly quá! Hồi đó không có cô và bà nội chắc…

 

Ly bùi ngùi nói:

 

– Vâng! Cô Hạnh như mẹ của hai chị em con vậy, cô thương bố mẹ con mất sớm nên hết lòng lo cho tụi con. Cô hy sinh cả chuyện tình cảm nhận lời lấy chú Ký Tàu để được đi theo diện bán chính thức. Nhưng chú Ký Tàu cũng tốt lắm, chú xoay xở cho hai chị em con đi theo luôn, bà nội không chịu đi vì còn chờ tin ông nội.

 

– Cái gì? Ký Tàu? Phải thằng béo, mắt hí hồi xưa theo em rồi cứ đem tiệm vàng nhà nó ra khoe không? – Thành bất mãn hỏi.

 

Mỹ Hạnh ngượng ngùng cúi đầu im lặng, cô cháu gái lại lên tiếng:

 

– Chú cũng qua thời kỳ khó khăn đó mà, người ta đem tình yêu ra cân ngang với sổ gạo. Bản năng sinh tồn, tình gia đình, nhân nghĩa, trách nhiệm khiến cô Hạnh của con cũng như bao người khác phải có những quyết định mà khi còn danh giá nằm mơ cũng không nghĩ đến. Với lại, chú Ký đến bây giờ vẫn đối xử rất tốt với cô và tụi con lắm.

 

Mỹ Hạnh nhìn cô cháu gái, cái nhìn ngụ ý đừng nói nữa. Thành chọt cảm thấy lòng mình thoải mái lạ lùng, những nặng nề đè nặng tâm tư bao tháng ngày qua chọt tan biến. À thì ra là thế! Cô gái vừa dùng chữ gì nhỉ BẢN NĂNG SINH TỒN. Ngày đó chàng đã làm được gì cho nàng mà bây giờ có  quyền trách móc? Nếu ngày xưa chàng thành hôn với Mỹ Hạnh biết đâu bây giờ cô lại đứng ở vị trí của Thuý Lan không chừng. Chàng nhìn kỹ lại người mình đã từng yêu say đắm, thời gian đã in hằn dấu ấn lên dáng người đẫy đà, khuôn mặt dù có trang điểm kỹ đến đâu, chàng cũng đoán được bộ mặt thật khi phấn son trôi mất. May mà nàng bây giờ là bà chủ lớn có nhà hàng, tiệm vàng, mấy căn nhà cho thuê, lấy chàng chắc gì ngày nay được sung túc đến thế. Nhưng tình cũ không rủ cũng đến, Thành biết cả hai đều còn dư âm ngày cũ, thậm chí rất nồng nàn, ngày xưa thì còn lễ giáo, sợ dư luận nên không dám tiến xa hơn… một cái nắm tay, bây giờ còn gì nữa cho nhau thì cho nhanh lên kẻo tình non sắp muộn rồi.

 

Ánh đèn đường bật sáng, câu chuyện đã tàn, Thành xin số điện thoại và địa chỉ khách sạn của hai cô cháu. Lúc bắt tay và nhìn thẳng (vì lúc đầu cô cháu  ngồi ngang nên cả buổi nói chuyện chàng không nhìn rõ). Chàng sững sờ nhận ra cô chính là hình ảnh sống động của Mỹ Hạnh  ngày xưa. Trong chiếc áo đầm trắng muốt, kiểu cách đơn giản nhưng lịch sự, trang nhã, mái tóc đen huyền, khuôn mặt không dấu vết của thẩm mỹ viện. Thành cứ nghĩ nếu cô thay chiếc áo đầm bằng tà áo dài trắng thì một dĩ vãng đẹp đẽ xa xưa sẽ hiện ra  trước chàng như bao lần chàng từng mơ khi trở lại quán cà phê này. Lúc chia tay, Mỹ Hạnh nhắn nhủ rằng cô về kỳ này không có chồng đi theo vì ông bận trông coi cửa tiệm. Lời thì thầm và ánh mắt tình tứ của Mỹ Hạnh không qua khỏi tia nhìn tinh tế của cô cháu gái. Thành thoáng thấy hình như cô lắc đầu thở dài, hành động đó làm chàng nhớ đến bài học LIÊM SỈ mà Thu Hằng dạy cho ngày nào. Chàng ngượng ngùng né tránh sự kề cận lộ liễu của người yêu cũ bằng cách giả vờ hỏi:

 

– Anh muốn mời hai cô cháu mai cùng đi ăn sáng, nhưng Ly chắc phải xin phép ông xã.

 

– Con bé này làm em mệt vì nó lắm, ai đời vợ chồng thôi nhau mười mấy năm rồi mà cứ tỉnh bơ ở không như vậy – Mỹ Hạnh than thở.

 

Thành thầm nghĩ: “Chứ ai như bà cô nó, chồng còn sờ sờ ra đấy mà đã có manh tâm rước giặc vào nhà rồi“. Chàng biết tinh thần mình đang dao động dữ dội, cơ hội dồn nén của mấy chục năm qua đã đến lúc được giải toả. Có nên một lần nữa đạp lên LIÊM SỈ để thoả cơn dục vọng không? Gã Ký Tàu kia không sao biết được, vả lại gã đã chiếm hữu người đẹp của chàng mấy chục năm rồi còn gì. Chợt con chó nhỏ của ông chủ quán cà phê chậm rãi lách mọi người đi qua, Cô cháu gái của Mỹ Hạnh mỉm cười chỉ nó:

 

– Con chó dễ thương quá! Nó là chó mà biết  LIÊM SỈ cố tránh không động vào ai để người ta không chửi.

 

Thành lặng người, lẫn lộn trước mắt chàng là Mỹ Hạnh và Thu Hằng chập chờn. Xa xa là Thanh Ly như một vầng sáng trắng mơ màng huyền ảo giữa đêm đen.

 

Ngọc Thanh Thi

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.