Hôm nay,  

Thủy tinh hóa

27/10/202209:52:00(Xem: 3923)
Truyện ngắn

NguyenKhai 036
Tranh Nguyên Khai.


Hai hôm nay tôi bị cảm, thấy đau cuống họng, thỉnh thoảng ho và mệt mỏi, có ngậm kẹo ho, ăn cháo trứng hành hoa theo cách chữa dân gian, thấy không bớt. Chiều nay bỗng nhớ ra ngày xưa mà ốm kiểu này thế nào Mẹ cũng bắt “xông”. Tôi đun một nồi nước xông với lá sả, vỏ cam và ngải cứu khô (ba thứ này tôi luôn có sẵn trong nhà). Tôi chỉ mặc một cái áo lót mỏng rồi ngồi trước nồi nước xông vừa bắc ra khỏi bếp còn sôi sùng sục, nhờ chồng chùm một cái chăn lên.

 

Tôi ở trong một cái lều kín mít với cái khăn lau mặt, từ từ hé mở nắp nồi cho hơi nóng của nước xông tỏa ra. Tôi hít nhè nhẹ cái mùi thơm của lá sả, lá ngải cứu và vỏ cam vào lồng ngực. Hơi nước nóng xông lên làm mí mắt nặng trĩu vì sũng nước.

 

Tôi nghe văng vẳng bên tai: Thủy Tinh Hóa… Thủy Tinh Hóa… ngăn chặn sự chết… Con người không cần phải chết hẳn… Cứ cho vào cái bồn này… Thời gian và sự chết sẽ ngưng lại…

 

Tôi hít một hơi thật dài, mùi hương của cây cỏ tràn vào mũi tôi tỏa lan trong lồng ngực. Hơi nước nóng trong nồi xông ra làm đầu tóc và ngực tôi bắt đầu ướt, hai mắt tôi mờ đi. Tôi thấy mình như bay vào một cõi nào khác ra ngoài cõi tôi đang sống.

 

Tiếng nói lại cất lên:

 

Trong cái bình nitrogen này, một ngày hay trăm năm cũng vậy, chết chỉ là một quá trình đông lạnh.

 

Tôi thấy tôi được đặt vào một cái bình thủy tinh khá to, họ đổ vào đó một chất lỏng gì đó tôi không biết và hình như tôi được nằm chung với khá nhiều người. Có tiếng nói lao xao:

 

Thời gian và sự chết sẽ ngưng lại. Ngưng sự chết để hồi sinh trong tương lai.

 

Hơi nóng trong nồi còn nóng lắm, vẫn bốc lên những hơi nước xông qua cái vung mới mở một nửa làm rát ngực tôi. Mắt tôi vẫn mờ và hồn tôi vẫn lâng lâng.

 

Bên trong cái bồn hóa chất này đã có 199 người và một số thú cưng được bảo quản lạnh để chờ tái sinh trong tương lai. Nghĩa là ngăn thời gian và sự chết xâm nhập họ. Ngăn họ đông máu và ngăn họ tỉnh lại. Họ được Thủy Tinh Hóa để chờ những phát minh trong tương lai sẽ chữa lành và cứu họ sống lại.

 

Tôi đã nằm trong đó cùng với 199 người kia cho chẵn 200 người.

Tôi quơ tay sang bên phải. tôi chạm vào một thân hình săn chắc hình như của một người đàn ông. Ông ta hơi nhích người ra một chút. Đây là một con người lịch sự.

 

Ồ anh bao nhiêu tuổi vậy?

 

Không có tiếng trả lời, tôi cũng không hỏi thêm nữa. Tôi nằm im một lúc tôi lại vung tay sang bên trái, tôi chạm vào một mớ tóc khá dài, đây chắc là một phụ nữ còn trong tuổi thanh xuân, chắc là phải trẻ hơn tôi. Tóc cô hơi tung ra chạm cả vào má tôi, tôi khẽ nhích xa cô một chút cho lịch sự. Hình như tôi nghe thấy tiếng cười khúc khích của trẻ nhỏ và tiếng sủa khe khẽ của một con chó.

 

Hơi nước nóng vẫn xông ra ở đâu đây làm mờ cả mắt tôi đang nằm cạnh ai đó trong một cái buồng rất lạ, cái buồng toàn nước lóng lánh như thủy tinh. Tôi thu hai tay lại đặt trên bụng, da bụng của một phụ nữ đã ba lần sanh nở. Tôi nằm im và tôi biết chắc chắn người đang nằm trong cái buồng này chính là tôi, không còn ngờ vực gì nữa. Tôi là người mẹ có ba đứa con mà. Nhưng tại sao chồng tôi lại đặt tôi vào đây nằm cùng với những người xa lạ này. Mai kia anh có sẽ vào nằm cùng với tôi không?

 

Hơi vẫn bốc ra khi như sương nóng, khi như mây, khi như khói, tôi bềnh bồng trong một dung dịch trong suốt.

 

Tôi quờ quạng hai tay và đụng vào nóc chăn trên đầu.

 

Có tiếng nói ở bên ngoài:

 

Xong chưa em?

 

Tôi úp một bàn tay lên ngực mình, có nhịp đập rất nhẹ dưới bàn tay tôi. Tôi đã trở về.

 

Trần Mộng Tú

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.