Hôm nay,  

Mùa Tạ Ơn

14/11/202221:00:00(Xem: 4770)

Tạp ghi

IMG_3549

Mỹ và Canada có nhiều ngày Lễ giống nhau, nào là Christmas, New Year, Halloween, Mothers Day, Fathers Day… nhưng cũng có hai ngày Lễ không trùng ngày. Đó là ngày Quốc Khánh , Canada Day hay còn gọi là Quốc Khánh vào ngày July 1st hàng năm, trong khi Independent Day của Mỹ là July 4th, cũng không cách xa là bao, chẳng lẽ Mỹ và Canada là... anh em từ kiếp trước?

 

Mùa Thanksgiving của Canada vào ngày thứ Hai tuần thứ hai của Tháng Mười hàng năm, trong không khí mùa Thu hiu hiu lạnh, cả đất trời là một màu vàng của lá Thu và màu cam của những trái pumpkins chuẩn bị thu hoạch cho Halloween.

 

Còn mùa Thanksgiving bên xứ Mỹ láng giềng vào ngày Thứ Năm của tuần thứ tư của Tháng Mười Một hàng năm, rộn ràng theo sau đó là ngày Black Friday, nối tiếp cho những ngày lễ lạc cho mùa Giáng Sinh và Năm Mới .

 

Tuy nhiên, ý nghĩa và nguồn gốc Thanksgiving của hai đất nước Bắc Mỹ này khá giống nhau, cũng như cách thức ăn mừng truyền thống với con Gà Tây, tạ ơn mùa màng tươi tốt. Hàng năm, tới mùa Thanksgiving, chúng ta, những người Việt tha phương, cũng đều có những tâm tình tạ ơn giống nhau. Cám ơn xứ sở mới đã giang rộng vòng tay đón chào chúng ta. Cám ơn những người xung quanh, cám ơn gia đình, bè bạn khắp nơi.

 

Với tôi năm nay, xin được có vài lời tri ân đặc biệt đến thành tựu rực rỡ của nền khoa học công nghệ hiện đại, đã cống hiến cho cuộc sống nhân loại biết bao điều mới mẻ, thuận lợi, vô cùng hữu ích.

 

Với Facebook, mạng xã hội toàn cầu đã nối kết mọi người rất mau chóng, diệu kỳ. Bạn bè cũ, hàng xóm xưa, ân nhân thất lạc, “người dưng khác họ mà thương” thuở ấy, “người thoáng qua đời nhau”… được tìm thấy nhau, cứ ngỡ như giấc mơ, vì đã từng nghĩ rằng một đi không trở lại, khó mà có ngày tái ngộ, dù là bằng phone, emails hay facebook.

 

Người ta trao đổi thông tin, chia sẻ tin tức nóng hổi “chỉ trong vòng một nốt nhạc”. Nhiều sự thật được phơi bày mà những chính quyền độc tài (trong đó có Việt Nam) rất đau đầu, khổ sở tìm cách đối phó.

 

Mạng Googles thì khói nói rồi he! Đó là cuốn từ điển bách khoa bao la cho nhiều người. Dù là mấy bà nội trợ, ngồi ở nhà cũng có thể tìm đọc về mọi thứ trên cõi đời này. Từ những kiến thức lớn lao thuộc lĩnh vực văn hoá, chính trị, lịch sử, địa lý, xã hội, sức khoẻ, cho đến những mẹo vặt linh tinh trong nhà ngoài phố, kể sao cho hết!

 

Tôi vốn là “tiểu thư con nhà nghèo”. Gia đình tôi thuộc loại thường thường bậc trung, nhưng được cái… đông con, tôi lại thuộc nhóm út ít, nên mọi việc trong nhà đều có các anh chị lớn đảm đương. Từ bé cho đến lúc học xong cấp ba, rồi ra trường đi dạy học, hầu như tôi chỉ biết học và chơi, không phải động tay động chân vào các việc nhà. Vì vậy, chuyện bếp núc may vá đối với tôi là chuyện... xa vời, chỉ là con số không. Thực ra, cũng có đôi lần tôi được giao việc canh bếp củi nấu nồi cơm, nhưng hình như “chẳng nên cơm cháo gì”. Một thời gian sau, nhà có nồi cơm điện thì thỉnh thoảng tôi mới được giao lại nhiệm vụ… cắm nồi cơm.

 

Đến khi vượt biên qua trại tỵ nạn Thailand, tôi lại may mắn (hay xui xẻo không biết nữa!) ở chung một nhóm 4 cô gái, trong đó có 2 cô thích nấu ăn, giành luôn phần cơm nước để cho tôi thoải mái đi làm thiện nguyện. Suốt bốn năm ở trại, tôi chưa hề biết khúc củi nồi cơm ra sao, chưa hề cắt thịt, mổ cá như thế nào, cùng lắm tôi chỉ được phụ hợ việc lặt rau, rửa chén, vì mấy lần phụ bếp tôi không làm rơi rớt món này thì cũng làm đổ bể thứ kia, nên tôi bị ... cấm vào bếp!

 

Bởi vậy khi qua Canada định cư rồi chuẩn bị lấy chồng, bà chị Cả bên Mỹ viết ngay cho tôi một thực đơn 7 ngày trong tuần, hướng dẫn tôi nấu những món ăn đơn giản, như kho thịt, chiên trứng, luộc rau, nấu canh. Ngày cưới tôi, nhóm bạn thân bên Việt Nam cũng vội vàng gửi tặng món quà “đầy ý nghĩa”, là hai cuốn sách dạy nấu ăn của tác giả Triệu Thị Chơi (chúng bạn rành tôi quá mà!). Tôi mừng húm mở sách ra bắt đầu áp dụng, nhưng chẳng có các món cơm canh thông thường mà toàn là những món nem công chả phượng, bánh trái dành cho tiệc tùng. Còn những món cuối tuần như cà ri, bò kho thì cách trình bày công thức sơ sài, khó hiểu, chưa kể nguyên vật liệu không phù hợp hoặc khó kiếm tìm nơi hải ngoại, nên tôi đành xếp hai cuốn sách đó vào tủ để ngắm chơi.

 

Thế nên tôi bắt đầu học hỏi từ thực tế, từ những lần đến nhà bạn bè, người quen xung quanh, thấy món nào ngon là hỏi ngay bí kíp rồi ghi chép vào cuốn sổ tay, dần dần cũng đầy những món cần thiết. Tôi đã có những ngày cuối tuần cặm cụi làm bánh bao cho chồng con mang đi làm, đi học. Những ngày tuyết đổ tôi nổi hứng “làm siêng” nướng bánh đậu xanh để uống trà, làm món lẩu Thái ăn cho ấm bụng và những bữa cơm gia đình cũng khá đầy đủ các món căn bản của ba miền, canh rau, đồ mặn, đồ xào…

 

Nhưng chỉ đến khi có kênh Youtube thì khả năng nấu nướng của tôi đã bắt đầu có tiến bộ vượt trội. Chỉ cần “nhấp con chuột” là có biết bao công thức các món, được tận mắt trông thấy phần hướng dẫn thực hành, rồi áp dụng làm theo là có ngay thành phẩm. Lần đầu chưa vừa ý, thì vài lần sau sẽ gần “như ý”. Chồng con tôi cũng quen dần với những lần “bị” bất ngờ khi bữa cơm chiều xuất hiện các món “mới và lạ” trên bàn ăn: Cơm Gà Hải Nam, Bún Hến, Bánh Bột Lọc, Mì Xào Lobsters, Bánh Tôm Tây Hồ, Bún Chả Obama (không phải chả làm từ… thịt ông Obama, mà là bún chả cựu Tổng Thống Mỹ đã ăn khi thăm Việt Nam). Đến mùa Thanksgiving hay Giáng Sinh, tôi cũng ngang nhiên rộn ràng làm món Roasted Turkey đúng kiểu truyền thống với đầy đủ stuffing, mashed potato, salad, cranberry sauce như mọi người bản xứ. Và chẳng nhớ đã từ bao lâu, hai cuốn sách của bà Triệu Chơi đã bị lãng quên trên tủ sách trong phòng, giờ chỉ còn là kỷ niệm của mấy đứa bạn vàng ngày xưa biết rõ khả năng... nữ công gia chánh của tôi.

 

Dĩ nhiên, với một người vụng về, không có khiếu nấu ăn, thì dù có cây đũa thần hay đôi hia bảy dặm như trong truyện thần thoại cổ tích, tôi cũng không thể biến hoá trở thành một đầu bếp nhà nghề, đảm đang. (Những người có năng khiếu bẩm sinh thì chỉ cần phẩy tay là có ngay dĩa gỏi đẹp mắt, nồi soup thơm lừng đúng khẩu vị, hay chén nước mắm pha không chê vào đâu được). Nhưng ít ra, tôi cũng có thể tự hào, (với sự trợ giúp của Youtube), là tôi không “ngán” nấu bất cứ món gì khi chồng con yêu cầu. Có thể là chưa được xuất sắc, chưa được gọi là “tuyệt vời” nhưng bảo đảm rất “chất lượng” và so với thời “ tôi, chính tôi ngày xưa đó” khi còn trẻ và chưa có Youtube thì đã khá hơn rất nhiều. Thậm chí mới đây chồng tôi còn tuyên bố, kể từ khi tôi biết nấu Phở và Bún Bò Huế, thì anh ấy không cần ra nhà hàng ăn hai món này nữa.

 

Như thế cũng đủ để Tạ Ơn chưa quý vị?!

 

– Kim Loan

(Edmonton, Canada)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.