Hôm nay,  

Thơ cuối năm...

12/30/202208:39:00(View: 4578)
abstract composition-victor hugo (1802-1885)
Tranh Victor Hugo (1802-1885).

 

QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

 

trầm mặc cuối năm 

 

đứa vung vít choáng váng

đứa ê a kệch cỡm

còn nhớ ngày nào

khi ráng chiều đổ dài miên man theo dòng mặc khải

người nằm im lơ đãng chờ đợi bí tích sau cùng

 

từng giọt từng giọt mưa long lanh

chậm chạp len lỏi từ khóe mắt ngây dại

chút son phấn chấm phá rồi cũng nhạt nhòa

đâu đây người bấu víu giữ chặt phút giây

nghe trăm năm vỡ vụn

 

trong giấc mơ hữu cơ huyễn hoặc

có ngực trau chuốt có mông nõn nà

ngự trên ngôi cao

mượt mà thơm phức

ngày hừng đông dậy mùi phồn thực

 

và tiếng hát đồng vọng từ đám mây bạc màu

khi tôi xếp lại những con chữ dằng dặc vàng ố  ̶ ̶ ̶ 

cái bóng ngày qua nhẩn nha trên dòng vô thức

góp nhặt ảo giác

giăng mắc mù sương

lẩn trốn trong bức tranh tường đầu ngõ

 

hôm nay tôi với tay chụp bắt cái bóng lung linh

giữa cơn ho khan khàn đục

cuối năm đến không cảnh báo  ̶ ̶ ̶  như con chó mù

còn ai lang thang lặn ngụp trên dòng nước lợ?


*
 

so what? so what?  

 

vớ vẩn chốn thị phi sau đêm nghìn lẻ hai

một ngày dở hơi không động đậy

phỏng vấn cột đèn thắp sáng chợ trời

bên đống rác to đùng chôn sống lẽ phải

vùi lấp cuộn dây định mệnh chưa thắt gút

 

dưới gầm cầu ông lão gặm mẩu bánh mì

đón cơn gió xa lắc tím lịm đậm mùi hơi nước

thảng thốt trong môi trường mất trí tập thể

lặp đi lặp lại hồi ức ngổn ngang tro bụi

đệm thêm đôi ba câu thần chú bất dị bất biến

 

so what? so what? thì sao? thì sao?

tiếng thét gào vang dội liên tục từ vực tối sâu thẳm

ngày chân cứng đá mềm không là hư cấu

ngón tay phong thấp gõ nhịp trên bàn phím

lắng nghe chữ nghĩa khô khốc rơi rớt lăn lóc rối nùi

 

ngậm từng hớp cafe đen đắng miệng từ ly giấy

cuối năm chợt nhớ làm người xa nhà đã rất lâu

muốn đứng ngã ba đường ngoắc tay giang hồ

quá giang một chuyến về quá khứ te tua vụn vỡ

 

đã quá nửa đêm trên góc phố ngập ngụa rác thải

vẫn đứng ngã ba đường

trong âm vọng dửng dưng chán ngắt

so what? so what? thì sao? thì sao?

 

– Quảng Tánh Trần Cầm

 

*

 

THY AN

 

Về đâu

 

ẩn ngữ nổi chìm tâm thức

rừng hoa thơm ngát dạ hương 

núi non phác lên trăm cảnh

xôn xao thơ ngọc dỗ dành

 

xoa tay nheo mắt ngắm tranh

miếu đền lung lay nhân ảnh

tím rừng nát đá vàng phai

mím môi thương mảnh phù đồ

 

dứt bỏ xiêm y cổ độ

hoa trời rụng rơi mấy cánh

dõi áng mây xanh trôi mãi

từ tâm theo gió xa bay

 

thy an

 

*

 

TRỊNH Y THƯ

Mười bài hài cú chiều cuối năm

1.

Chiều cuối năm ngồi chờ

chuyến xe mãi chưa về bến đậu

chú sẻ giương mắt nhìn.

 

2.

Chiều cuối năm xuống phố

rừng người chẳng nghe ai nói năng

chỉ thấy hình với bóng.

 

3.

Chiều cuối năm ra biển

biển âm âm u mặc nỗi niềm

dưới chân đùn ụ cát.

 

4.

Chiều cuối năm lên đồi

nhìn mây tím vờn quanh rừng trảng

lặng thinh âm nhạc xanh.

 

5.

 

Chiều cuối năm phân vân

không biết làm sao cho hết kiếp

vầng trăng non vừa nhô.


6.

 

Chiều cuối năm nhớ mưa

mùi cỏ ướt dồng dềnh sương khói

thủ thỉ vạt đất nâu.

 

7.

Chiều cuối năm ước hẹn

bóng đổ dài tường gạch hanh hao

ríu rít chim về tổ.

 

8.

Chiều cuối năm nói thầm

đóa môi đắng xin làm kỷ niệm

ký ức chợt ùa về.

 

9.

Chiều cuối năm thơ thẩn

hạ đông thời gian đỏ tím vàng

màu quan san chiếc lá.

 

10.

Chiều cuối năm mình tôi

nơi góc đời lãng quên hiu quạnh

ánh tà huy hương lay.

 

– Trịnh Y Thư

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.