Hôm nay,  

Hàm răng ngọc

16/02/202310:31:00(Xem: 4290)
Truyện

rang


Nhớ lắm lúc như si như dại

Nhớ làm sao bải hoải tay chân

Nhớ hàm răng nhớ hàm răng

Nhớ người ngày đó vẫn khăng khít nhiều

(Thơ Hàn Mặc Tử)

 

Khi ta làm chuyện gì không phải ta đều sợ người khác chê cười. Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa. Nhưng cũng có khi ta ngẫm việc đời thì phó mặc, cười hở mười cái răng. Cười hở mười cái răng thì hở cũng hơi nhiều thật, nhưng khi cười có ai kìm hãm được niềm vui bộc lộ. Cười thì cứ thoải mái cho nó muốn hở bao nhiêu cái thì hở, cho thấy nụ cười gắn liền với hàm răng.

 

Trong các bài tình ca Việt Nam, Tình Hoài Hương chẳng hạn, ta vẫn nghe hát:

 

Ai về có nhớ, nhớ cô mình chăng

Tôi về, về tôi nhớ, nhớ hàm răng, răng cô mình cười…

 

Nụ cười với hàm răng là biểu hiệu sức sống của con người. Ngày xưa có người nói ông Kennedy đắc cử cũng một phần nhờ ông có nụ cười có duyên, quả không ngoa. Đây là nụ cười và hàm răng cho ra thành quả chính trị.

 

Hàm răng có lúc còn đóng vai trò chính yếu trong tình yêu. Một nha sĩ quen đi kén vợ, ông tính hỏi cô A, trong thâm tâm nghĩ thế, nhưng đi giữa đường gặp em cô A là cô B đứng lại hỏi han trò chuyện, ông thấy hàm răng cô B đều đặn, xinh xắn và bóng như ngà. Ông thấy đáng yêu và duyên dáng quá. Thành ra có một sự di chuyển tình cảm, ông không cưỡng lại được. Ông xin ngỏ lời và hỏi cưới cô B. Không phải chỉ có một mình anh bạn nha sĩ đó mới bị ảnh hưởng nghề nghiệp lái đi quẹo ngã rẽ vậy đâu. Sự duyên dáng, sự đưa đẩy và duyên số là chính yếu. Cứ tạm cho là như vậy cho yên lòng.

 

Chúng ta khi gặp nhau chào hỏi, là trước tiên, chính yếu là phải đưa cái hàm răng ra trình diện cho nhau. Có ai mà nói không cười, nhứt là không hở mười cái răng?

 

Hàm răng đẹp là hàm răng như thế nào, thưa các nha sĩ? Tôi hỏi mà tôi xin mạn phép trả lời thô thiển trước, vô duyên thật, nhưng kẹt là tôi đang viết đây. Ôi chờ được cái hẹn trả lời hay cái hẹn đi trám răng lâu quá, thôi thì mạn phép được nghĩ đại khái như thế nầy, hàm răng đẹp là răng mọc đều, mọc ngay ngắn, cái nọ khít bên cái kia, trắng và sạch.

 

Có người ví răng đều như hạt bắp, có người bảo răng đẹp như hạt huyền, có ngươi còn trân trọng hơn gọi là hàm răng ngọc. Ngược lại có người răng mọc không đều gọi là răng khểnh, khểnh ở trước miệng gọi là răng hô hay vổ, mà có thời người Việt Nam mình hay gọi nhau là Henrô. Nhưng nếu có cái răng mọc khểnh, xích ra ở một bên khóe miệng thì lại là răng duyên vì nó tăng duyên dáng cho nụ cười của bạn bội phần. Nhưng coi chừng khểnh một bên khóe miệng thì có thể làm cho ý trung nhân vương vấn, trằn trọc khó ngủ. Nhưng lỡ ai có cái răng khểnh nhọn cùng nhô ra một lượt hai bên mép thì đối tượng sợ khiếp vía, rút êm, vì cứ tưởng người đẹp là phó bản của Dracula hiện hình.

 

Ngày nay y khoa, nha khoa, khoa học và kỹ thuật tiến bộ chấn chỉnh được các hàm răng vô ý tứ. Các em bé và mọi người bị răng hô, răng khểnh đều được mang đi chữa, cho răng mọc đều và mọc đúng vị trí. Cái nào hung hăng mọc ngang mọc quẹo làm phiền thì cứ nhổ béng đi là xong. Sau đó trồng lại, thậm chí đẹp hơn cái trời cho. Cám ơn nha sĩ.

 

Nhưng khoảng những chục năm về trước điều đó không dễ, nên thời chúng tôi còn trẻ, khoảng 1960–1970, đa số người có tật về răng phải ráng chịu, phải mang tên Henri, Henrô, Tôi còn nhớ mãi như còn trong cuộc đời, dù nay tuổi đã về chiều. Chúng tôi có hai người bạn, một nam tên K, một nữ tên V. Cả hai học chung lớp, chơi thân, và cha mẹ hai bên muốn kết thân. Như tôi vừa nói cả hai, K và V, đều chơi thân nhau và học chung với nhau nhiều năm cho tới lúc cả hai thi xong tú tài, cùng vào đại học. Họ có cảm tình với nhau. Nhưng khi mẹ anh K đề nghị đi dạm chị V cho anh thì anh khăng khăng không chịu, không chịu lấy vợ, cũng không chịu nói rõ tại sao. Cả hai cứ lơ lơ lửng lửng như thế cho tới ngoài ba mươi tuổi. Ba chục tuổi đầu vào thập niên 1970 kể đã muộn màng. Chúng tôi là những bạn đồng môn với K và V mà đã tay bồng tay mang, ríu rít và bận rộn, tối ngày vừa công việc làm vừa con mọn.

 

Có một ngày K đến thăm vợ chồng con cái tôi, nhìn K ham chơi ham giỡn với đám con nít, tôi không giữ được, bật hỏi:

 

– Nầy ông K, tôi hỏi thật, chuyện ông với bà V tới đâu rồi?

 

Anh gãi đầu gãi tai, tần ngần mãi rồi trả lời tôi:

 

– Thật ra thì lúc nầy trời mưa to.

 

– Ô hay cái ông nầy, đang nói chuyện tình yêu thì lại bảo mưa to với mưa nhỏ là sao?

 

K đi đi lại lại cố giải thích rõ hơn:

 

– Cô thật là kém thông minh, hay nhỉ, vậy mà cũng gọi là cô giáo. Nầy nhé, chỉ khi nào có lắm mưa to gió lớn thì người ta mới cần mái hiên chớ.

 

– Trời, sao anh lại xấu bụng và xấu miệng như thế với V hả? Anh mà cứ xấu như vậy thì sẽ bị trời phạt đấy. – Tôi lo dùm anh quá. Sợ cứ cái đà nầy rồi anh kiếm cô Henret cũng không ra.

 

K hơi đỏ mặt bào chữa:

 

– Tôi không ác đâu, tôi chỉ muốn nói ra cái sự thật mà không ai chịu hiểu là sao? Ngay cả mẹ tôi cả ngày bà cứ khen V ngoan và chịu khó. Tôi lấy vợ chớ có lấy cái chịu khó đâu. Tình yêu ít ra cũng phải có cái bề ngoài trông được được cho mình cảm mến, không nói là để xúc động chứ.

 

Tôi không còn lý do để cãi lại và từ đó chúng tôi không còn dịp để đề cập tới tình yêu hay răng lợi nữa. Nghĩ đến răng lúc nào thì dù bận rộn đến mấy chúng tôi cũng không khỏi cười thầm trong bụng về cái ý tưởng ngộ nghĩnh của K. Tôi đinh ninh là K hẹp hòi.

 

Độ ấy các con tôi đã đến tuổi sâu răng và bị nhổ răng. Chúng rất sợ cha mẹ dắt đi nha sĩ săn sóc răng, mà ngược lại chúng thích theo bà nội ra chợ để cho « bà Năm giác lể » xông khói vào lợi răng đặng bắt ra con sâu răng. Có lần con tôi trở về với một gói kẹo to trên tay và khoe:

 

– Hôm nay nội đưa con ra bà Năm xông khói miệng bắt được một con sâu to bằng bấy nhiêu này mẹ.

 

Nó hăm hở nói như thật và chìa ra trước mặt mọi người xung quanh hẳn một ngón tay út xinh xắn. Hôm đấy trời sui khiến sao đó có cô V đến chơi, nghe con bé nói vậy cô cười ngất:

 

– Con sâu răng chi mà to dữ vậy. Nếu nó để trong răng, có ngày cáu tiết lên nó gậm hết hai hàm răng của bé Uyên thôi. Sao con không mang nó về đây bán cho cô, cô mua lại cho nó ăn hết ba cái răng vổ của cô đặng cô làm lại răng mới… nhưng sửa răng hô cũng khó lắm, răng có thể ngắn lại mà môi trên vẫn nhô ra, coi kỳ kỳ!

 

Thời gian vút qua như bóng câu qua cửa, hơn mười năm không gặp, khi K đến, trông đã thoáng nét mệt mỏi thời gian. Chúng tôi lại vấn đáp chuyện cũ khi K tâm sự:

 

– V bây giờ đã học xong luật. Cô làm lục sự ở tòa án và lấy một ông thẩm phán. Họ đã có hai cháu lớn bắt đầu đi học rồi. Tôi mới gặp họ ngoài phố.

 

– Còn anh?

 

– Tôi vẫn thế, vẫn trăm năm hạnh phúc một mình, vẫn lang thang và tự do.

 

– Nhưng anh vẫn có tin tức của V đều đấy chứ? Tụi tôi thì bận rộn.

 

– Dĩ nhiên, chúng ta là bạn thân từ nhỏ chứ giỡn đâu.

 

– Tôi đâu nói anh giỡn, tôi chỉ trách anh xem trọng cái hàm răng quá đáng.

 

– Cô quan niệm tình yêu không đúng, không toàn vẹn.

 

– Vậy tình yêu toàn vẹn phải có hàm răng đều cân xứng?

 

– Đúng. Hàm răng tự nhiên, không sửa chữa, không can thiệp.

 

Tôi tôn trọng ý kiến riêng của bạn, không nói thêm. Sau 1975, cộng sản áp đặt miền Nam, chúng tôi không được nghỉ hè mà phải đi học chính trị. Tình cờ trong một buổi hội thảo, mãi nhiều năm sau, tôi gặp lại K. Tôi được biết anh vẫn lủi thủi bên bà mẹ già tóc bạc phơ. Một lần, trong giờ giải lao, tôi đánh bạo hỏi:

 

– Anh vẫn chưa tìm được hàm răng đẹp?

 

– Rồi.

 

– Đâu? Nàng tên gì? Sao không mang lại đằng nhà chơi?

 

– Thủng thẳng, không gấp, nàng sẽ đến thăm vợ chồng cô và các cháu nếu tình hình tiến triển với chiều hướng tốt.

 

– Độ bao giờ?

 

– Đã bảo không lâu đâu. Từ từ, chỉ qua tháng tới thôi. Hết hè nầy là phải ra ngô, ra khoai… Tôi và nàng hẹn nhau cuối tuần sẽ tuyên bố chấp nhận tình yêu, hay là không bao giờ. Chúng tôi sẽ cùng đến ở điểm hẹn, tức là coi như ngầm đồng ý. Đó là điểm hẹn. Thiên Đàng, nơi gặp gỡ của bánh mì và hoa hồng, nói theo định nghĩa của Karl Marx. Tôi có bánh mì còn nàng mệnh danh là hoa hồng. Cứ xem như vậy đi.

 

– Đúng là học chính trị kiểu cộng sản, nói theo kiểu Vẹm.

 

Tôi hơi bực mình và buồn cười nhưng cũng lắng bụng chờ đợi, chờ đợi cho qua buổi hẹn để xem mặt Hoa Hồng, tò mò mà. Nhưng hỡi ơi, chủ thuyết cộng sản không đúng khi mà người ta không thực lòng đảm bảo, kể cả trong hoàn cảnh tình yêu muộn màng của anh bạn khó khăn. Hoa Hồng đến điểm hẹn mà bánh mì không đến. Không phải không đến kịp theo luật cung cầu, mà K tự ý không đến. Anh thành thực, tôi nghĩ là K thành thực, rất thành thực khi kể lại:

 

– Hôm đấy, một chiều chủ nhật đẹp trời, có sợi mây hồng vương vương trong gió, chúng tôi đã y hẹn bốn giờ chiều ở quán Thiên Đàng. Chúng tôi đã giao ước trước nếu cả hai cùng đến là cùng chấp nhận yêu nhau, nhưng nếu có một trong hai người thay đổi ý kiến vào giờ chót không đến, cuộc tình không thành thì người nầy không được vặn vẹo người kia là tại sao… và dù gì, về sau cả hai vẫn là bạn, vẫn là đồng nghiệp, cùng một tổ chuyên môn và vẫn cùng nhau soạn “giáo án“, dạy chung trường.

 

Tôi kiên nhẫn nghe. Anh lấy thuốc lá hút vài hơi, bình tĩnh nối lời:

 

– Tôi đã tắm rửa cho mát, diện quần áo bảnh bao, lên xe chạy, lòng ung dung thư thái tiến về phía Thiên Đàng. Còn cách điểm hẹn năm trăm thước, tôi ngừng lại bên đường, hút điếu thuốc, suy nghĩ thêm lần chót: tại sao mình lại đến? Tại sao lại phải đến? Tại sao sống lại cần đến Hoa Hồng? Nhìn trời, hút tàn điếu thuốc, tôi tìm ra một chân lý mới: tôi là tôi, cũng là mây, là gió, là trăng nước. Tại sao lại phải tùy thuộc vào một người. Cho dù người đó là Hoa Hồng? Thế là tôi quay xe trở về nhà. Ừ nhỉ, quên mất mình đang sống tự tại, tự do, muốn đi đâu thì đi, về đâu thì về. Tự nhiên lại buộc vào mình một gốc Hoa Hồng gai góc, phiền toái làm chi. Thôi thôi cứ tự nhìn trong cái xã hội nầy đã rồi tính sau. Tôi khỏi phải làm phiền ai và khỏi ai làm phiền tôi, sống vậy là tiên trong đời.

 

K nói một hơi, đắc ý một mình. Tôi nhìn cái bản mặt anh phát ghét.

 

– Thôi, anh lẩn thẩn lắm, đi về đi. Tôi chán nghe chuyện lẩm cẩm của anh lắm rồi. Đồ đàn ông mà sợ trách nhiệm.

 

Chúng tôi không chào từ biệt nhau.

 

Mãi gần khi tôi từ giã quê hương xuất ngoại để đoàn tụ gia đình với chồng con tôi, mùa Noël 1982–1983 thi K đến tìm tôi và cho chúng tôi hay:

 

– Các bạn ạ, vì mái hiên yêu dấu, nàng vừa đến chào tôi để đi xa, thật xa đây, đi đoàn tụ với đại gia đình bên kia trời tây thăm thẳm, có lẽ rồi tới cuối cuộc đời… không bao giờ tôi và V còn gặp lại nhau nữa.

 

Mặt anh hơi tái và phảng phất nét thống thiết, bàng hoàng. Chúng tôi chưa kịp phản ứng thì anh đã hậm hực, nói thêm:

 

Tôi chả hiểu tại sao cái ông Thượng Đế mà ai ai cũng khâm phục, lại ban cho V cái hàm răng chả hợp tí nào với khuôn mặt và con người của V. Răng lợi như vậy có khác nào chửi bố nhau còn đỡ tức hơn.

 

– Thôi mệt quá rồi ông tướng ơi. Đầu đời cũng chuyện cái răng, cuối đời lăn lộn mãi cũng chuyện cái răng hô. Thôi quên đi là xong.

 

– Tôi cũng cố quên, mà quên cũng có nghĩa là phải nhớ nhiều hơn nữa.

 

– Sao ngày xưa anh không nghĩ như vậy có êm đẹp hơn không? Còn cô Hoa Hồng giờ ra sao rồi?

 

– Hoa Hồng sau đó giận tôi đổi đi xa. Nhưng đừng nói đến cô ấy nữa. Tôi đang nghĩ về V.

 

– Khi nào anh cũng quyết định trễ và khó khăn hơn mọi người.

 

Chung quy cũng tại lỗi ở cái hàm răng. Tôi tranh luận thật lâu với bạn tôi. Tôi khăng khăng cho là bạn K không thật lòng yêu V vì khi đã yêu, người ta yêu cả nét đẹp lẫn nét xấu. Khi yêu cô Lan, hay yêu cô Mai thì tại vì đó là Lan, là Mai. Bạn tôi nhứt định cãi tôi. Anh nói trong tình yêu mà không toàn vẹn, dễ nhìn (?) rồi sẽ bỏ nhau sớm hay muộn mà thôi. Anh dẫn chứng là lúc thuận thảo thì sao cũng xong, nhưng khi đã xích mích thì nhìn cái vô duyên của người đối diện « chỉ muốn vả » cho một cái.

 

– Chúc Thanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.