Hôm nay,  

Trang Thơ

18/02/202312:38:00(Xem: 3678)
duythanh 6
Phóng họa của Duy Thanh.



CHÚC THANH

Một bông hồng tặng người dũng sĩ Ukraine

 

Có khu rừng, một ngày kia nắng hạn

Nhựa khô dần trên từng phiến lá im

Có con suối băng mình đi hối hả

Sợ đường dài nên vất vả ngược xuôi.

 

Đá có ngăn, cứ ào lên mà tiến

Núi có chia, lao thẳng xuống chân đèo

Dẫu con đường đầy chất ngất cheo leo

Suối vẫn tới vì suối là sự sống

 

Bên khe đá, có bông hồng nhỏ bé

Cố vươn người ra khỏi kẽ rêu xanh

Đứng nghiêng mình bên dòng nước uốn quanh

Cất tiếng nói vẻ vụng về trang trọng:

 

Suối của tôi, khi con người bái vọng

Trước bàn thờ, khi cất giọng tạ ơn

Thì bánh quà, hoa, trái ngát hương thơm

Người bầy biện chất chồng nhiều lễ vật

 

Riêng có tôi, dẫu lòng thành chất ngất

Chẳng có gì ngoài một chút hương hoa

Xin vui lòng đem tới những nơi xa

Xin nhận lấy tấm lòng nầy lễ vật

 

Ngày hôm nay trên nhiều miền trái đất

Như cỏ cây như sỏi đá âm thầm

Có bao người đang sống giữa tối tăm

Trời đất rộng hoang tàn đầy mộ chí

 

Như hạt bụi vật vờ đường thiên lý

Con ốc cũng mòn mỏi giữa vòng quay

Họ là gì? Trong suốt cuộc đổi thay

Khi đã mất cả đến quyền suy nghĩ…

 

Như thần thoại: có một người dũng sĩ

Được nữ thần trao ngọn lửa tự do

Tóc phai mầu, trán xếp những âu lo

Chàng vội vã đem đến miền băng giá

 

Để sưởi ấm trái tim người hóa đá

Để cùng đi soi bóng đến tương lai

Ngọn lửa này chẳng phải của riêng ai

Vì lửa ấy vốn hào quang thượng đế

 

Nhưng bóng tối tự muôn đời vẫn thế

Chẳng bao giờ tin cậy ở tự do?

Đường đạn bay gồng nặng những âu lo

Đã lao tới rít lên lời thù hận

 

Thế là hết giữa đêm dài bất tận

Những vì sao đã tắt giữa hư không

Con đường đi đầy đẫm vệt máu hồng

Nắng đã tắt cuối chân trời u tối

 

Nhưng không!

Nhiều dũng sĩ vẫn đứng lên

Họ đứng lên bởi một phép nhiệm màu

Bởi ý chí. Bởi quê hương. Trách nhiệm.

 

Người đứng lên như chưa hề ngã gục

Vâng

Người vẫn đứng lên

Vì người là sứ giả

Đường vạn lý dẫu muôn ngàn vất vả

Thông điệp này phải tới khắp muôn nơi…

Florida, Kiev hay Paris…

Người phải tới, vì lòng người hiểu rõ

Khi ngôn ngữ đã bị nhiều phản bội

Thì kiếp người như thể kiếp vô sinh

Khi tư tưởng đã tiến hành pháo kích

Thì ngục hình vây kín cõi Ukraina

 

Khi quyền sống bị đạn bom cày nát

Thì kẻ thù là ác quỷ nay, mai

Người đứng lên qua muôn vàn đổ vỡ

Mong hòa bình xích lại với tương lai.

 

-- Chúc Thanh

(Paris 6-2-2023)

 

*

 

 

THY AN

Tiếng tù và

 

thổi tù và giữa đồng không mông quạnh

tiếng kêu vang xa

thổi ống đồng vào đám than hồng

lửa sáng đêm tàn

hành động cô đơn thê thảm

 

cạn kiệt ngôn ngữ

đôi khi nổi khùng

đọc lùng bùng ngụ ngôn của Tây của Tàu

buồn buồn nhìn cảnh đời trước mặt

sống lánh xa

 

vẫn nghe tiếng tù và của ai vọng lại

không giống tiếng kèn, không như tiếng trống

day dứt, thật dài, thật rộng

lắc lư bóng người trên đá

 

tiếng của tiền sử trên núi, trong hang

ánh lửa đêm tàn bập bùng ẩn hiện

tiếng kêu ma quái của quá khứ          

đang biến thành vô thanh xoáy lòng

nhìn đêm thật xa…

 

– thy an

 

 

*

 

QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

dị bản đầu năm     

 

 

1.

thật là khốn khổ

đứng / nằm / ngồi đều soi gương

đứng / nằm / ngồi đều tạo dáng selfie

đứng / nằm / ngồi đều hát karaoke

đóng chai ngày tháng thả trôi trên dòng ảo giác

nhìn cuộc đời lướt qua như chuyến du lịch vô định

không điểm đến

lạc giữa vũ trụ bao la

ở góc xa

bên kia dải ngân hà

ngẩn ngơ khóc thét

chờ tới phiên bốc hơi vào hư không

thật là thống khổ.

 

2.

chẳng phải ChatGPT là Chat Giải Phóng Thơ?

không còn cực khổ mần thơ như mần ruộng

không còn cực khổ mần thơ như đẽo đá tạc tượng

trí tuệ nhân tạo trong tích tắc phun châu nhả ngọc cả rổ cả thùng

thay thế đứa mần thơ dở hơi vô tích sự ăn cho nhiều uống cho lắm

bụm miệng nàng cười khúc khích

nhìn chữ nghĩa thơ phú rơi rớt đồm độp

liên tục dưới mái hiên

trên sàn nhà

bên vỉa hè hàng quán

và vẫn thế vẫn thế

vẫn là nàng  ̶ ̶ ̶  như thị như thị

mím môi cười rúc rích

vẫn là nàng  ̶ ̶ ̶  robot dễ thương. 

 

– Quảng Tánh Trần Cầm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.