Hôm nay,  

TRANG THƠ

23/02/202311:08:00(Xem: 3333)
nguyetcam 1
Tranh Đinh Trường Chinh.



TRẦN HẠ VI


 

Yến thương

 

người vẫn đó, chưa bao giờ lỗi hẹn

chốn hoang mang/ tôi bán, mảnh chung tình

những lơi lả: cợt đùa màu rêu. biển

người vỗ về, ôm ấp một sinh linh

 

ơn thánh khiết/ mùa tàn trăng. năm trước

giọt tái tê nhuộm, tím, một cánh đồng

người đã đến; đuổi đi. loài dị. mộng

tôi vẫn ngồi. ôm mặt, khóc dòng sông

 

loài chim hiếm/ bay qua, rừng, tuyệt vọng

phiến môi ngoan. ngậm đắng. mảnh đông. tàn

người ve vuốt: đầu đời, con yến, nhỏ

bao dung lòng. tôi tức tưởi, riêng, mang

 

và đêm ấy, tôi yêu người, rất lạ

giữa bão dông, cơn hưng cảm. mở lời

và từ ấy, người bên đời, dỗ, nín

một ngàn lần: con yến khóc, bi thương

 

 

Khúc bn mươi
(Tưởng nhớ em Võ Thị Trúc Linh)

 

Và nhẫn nại giết hồng trần nửa mảnh

Phiến môi ngoan xin khép lại một lần

Em tàn yếu em gầy hơn lá cỏ

Ta quặn người gục xuống một niềm đau

 

Ngày cứ đến và đêm nào cũng khóc

Bốn mươi kia chưa chạm đến một lần

Gặp trong mơ dịu dàng em thầm thĩ

Bốn mươi rồi tuổi ấy sẽ tình chung

 

Đem can trường thử lòng người sương gió

Mộng sông hồ chết dở cạnh bức tranh

Và hôm đó em buồn như thức giấc

Vuột tay ngà lỡ sợi thơ mong manh

 

 

Tình ca Nova Scotia

 

tuyết trắng phủ Canada

tuyết trắng phủ Nova Scotia

 

ngồi trong bản tình ca đôi mươi nhân ba lần hớn hở

nụ hôn dưới làn tuyết trắng màu rạn vỡ

hai dấu giày anh giẫm

trái tim trắng mềm mịn em

 

đứa trẻ nằm dang tay tạo thiên thần

em tất tả xây bức tường băng

anh nhún vai bâng quơ

dắt tay hai đứa trẻ

đi qua một cơn mưa khác

cô ấy viết một bài thơ

yêu anh yêu anh

nồng nàn quá đỗi

 

em không ghen em chỉ tò mò

cô ấy yêu anh yêu anh yêu anh

cháy trơ trọi niềm tin hy vọng thất vọng đan xen tuyệt vọng

đợi chờ đợi chờ fiction hay non-fiction

em không đi đến cùng tận

lý trí hay giấc mơ

 

em yêu anh bằng một trăm bài thơ

em viết cho người đàn ông khác một bài thơ

cô ấy yêu anh bằng một trăm bài thơ

anh còn tiếc nuối tình yêu người đàn bà

em không ghen không nổi đóa

cát xa tuyết xa cát xa tuyết xa

 

những con sâu rùng mình tan ra

bọt lá mềm như lửa

con sâu nào hóa bướm

con sâu nào nuốt chữ trong thơ

con sâu của anh

hay của cô ấy bất ngờ

hay của người đàn ông vẫn nói lời mập mờ

về một cuộc hôn nhân

về những cuộc hôn nhân và gãy đổ

con chữ mặc áo cưới trắng viền đăng ten

có những sợi gai

 

chiếc cà vạt đỏng đảnh

chật vật một trăm lần anh thắt

gói bí mật

trong chiếc khăn quàng cổ

chiếc áo len mềm

quyển sách giấu một cành hoa

trang thứ hai mươi ba

 

chúng ta hát những bài ca

về tình yêu đôi lứa

nổi lửa và không nổi lửa

quá khứ hiện tại tương lai hậu tương lai

hiện đại hậu hiện đại hậu hậu hiện đại

 

con chữ ngủ gục giật mình tỉnh giấc

cởi truồng nhảy múa

và hôn anh...

 

*

 

TRẦN HOÀNG VY

 

 

Lim trăng

 

Tôi còn một góc liềm trăng

Giêng hai ngồi nhớ chị Hằng ầu ơ

Hai đầu trăng mắc câu thơ

Võng tình ru thuở ta chờ đợi nhau

 

Liềm trăng gói lại hương cau

Dấu môi đêm trắng hôn nhàu mặt em

Tóc mây che khuất mắt thèm

Lời vô ngôn ngón tay kèm bàn tay?

 

Hững hờ mi khép giấc say

Vầng trăng in dấu gối này là hoa

Chong chao khóe mắt mù sa

Dẫn ta khuất lối da ngà mùa trăng.

 

Dấu tay bấm lặn rồi hằn

Phôi phai nguyệt tận nhọc nhằn tình yêu

Cuối mùa ru buổi liêu xiêu

Mảnh trăng liềm khuyết yêu kiều chợt phơi...

 

 

T thời 4.0

 

Bạn xưa còn mất. Hồ như bụi

Chưa kịp chát, meo. Bàn phím buồn

Bạn mới. Hôm qua trên phây-bút

Cách mấy núi sông. Khác cội nguồn...

 

Ừ, thôi cứ gửi tình ta- tút

Chẳng ngại gì lai với còm men

Hãy cứ mở lòng ra đón gió

Mai mốt rồi cát bụi dần quen…

 

 

Mật ngữ

 

Truyền ngôn hiểu ý nghĩ người
xác thân giác ngộ và cười trên non
cao, tìm kinh pháp chữ son
sắc không, không sắc mật ngôn ngữ là
chánh tâm đốn ngộ chẳng cà
sa di đà Phật tất già lam tu…

 

 

Mùa sim

 

Mùa sim,
Đồi tím màu hoa
Em ngây thơ thuở
Tóc loà xoà hương

 

Một con bướm lạc
Ven đường
Ghé đồi sim
Gặp mùa hương vô thường!

 

Ai cài sim
Tuổi dễ thương
Ai môi tím ngọt
Thiên đường mon men

 

Mùa sim
Giọt tím mắt đen
Ngực sim ngày nhú
Dâng men tình buồn?

 

Ai say rượu ủ
Hơi suông
Mùa sim lửa tím
Hương cuồng thơm bay.

Áo xưa phơi tím
Đồi này
Sim hôm qua nở
Hết ngày tím dâng…

 

 

Ngộ

 

Ra sông,

Giặt cái sân si

Bóng mình dưới nước

Có khi cũng buồn?

 

Hốt nhiên,

Một chiếc lá buông

Tâm duy chợt ngộ

Bóng mình.

Vừa tan...

 

– Trn Hoàng Vy

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.