Hôm nay,  

Trang Thơ

15/03/202310:01:00(Xem: 3493)
Wilhelm_Lehmbruck_(1881-1919),_Mutter_und_Kind_(mother_and_child)_1918
Mother and Child (1918) -- Tranh Wilhelm Lehmbruck (1881-1919).



QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

 

 

ngày mưa không dứt

 

đứng bên kia đường

nhìn cơn mưa ngây ngất trút xuống

nỗi bất bình chín muồi

đôi chút ngạo nghễ

ngày làm biếng của mây trời

ngao ngán tê môi

 

ngồi bên này đường

tôi trôi mải mê trong kỳ bí 

bủa vây độc thoại chờ định hình

gió lùa qua cánh cửa khép hờ

chuỗi ngày bất ngờ trầm lắng

theo dòng nước cuốn trôi 

 

thời gian giãn nở

tôi co thắt trong tận cùng mênh mông

bỏ lại phía sau tháng ngày bươn bã

đây bát cơm đầy... 

 

 

đêm dài chơi vơi chắp cánh

 

mỗi tối hắn lang thang trong vô thức

sau một ngày cặm cụi tha từng hạt thóc

qua đồi cao lũng sâu xao xác tiếng chim

 

tiếng kêu khẩn trương thúc dục trí nhớ vẩn đục

mớ rêu phong đan chồng chéo chằng chịt

dày đặc rối rắm tựa mô hình thời không tưởng

 

hắn đói tiếng dương cầm ngọt lịm vụt thoát

từ ngôi nhà trước sân có cây hoàng lan

ngậm ngùi trong ký ức khói sương mờ mịt

 

hắn đói mùi cá kho tộ

đói tô canh chua của mẹ

(như đói độc lập tự do hạnh phúc  ̶ ̶ ̶  

không phải thứ logo biểu tượng vô nghĩa)

đói từ trong xương tủy

đói trong tận cùng DNA

 

từ ngôi nhà trước sân có cây hoàng lan sum sê

huyền thoại nở trăm phiên bản

chơi vơi trong điệp khúc dịu dàng thánh thót

giữa những tượng thú kỳ quặc

nhăn mặt nhe răng giương móng vuốt chực chờ

 

trong đêm đen trực giác rộng mở

mùi hoàng lan ngào ngạt nồng nàn

hắn quỳ trên nền đất khổ hạnh triền miên

khao khát uống cạn dạ khúc côn trùng

lắng nghe cảm xúc nhởn nhơ chắp cánh

 

và trong bầu trời đêm không trăng không sao

những giọt nước mắt cay xè

lặng lẽ lăn trên khuôn mặt khắc khổ của mẹ

ngày lại ngày qua

nào ai biết

nào ai hay

 

đây bát cơm đầy...

 

– Quảng Tánh Trần Cầm 

 

*

 

NGUYỄN HÀN CHUNG

 

 

Bạn vàng

 

Mười năm trước hắn bảo

tau kết hôn với nàng rồi mày ạ

Tôi nâng ly chúc mừng bạn kết hôn thành công mỹ mãn

Mười năm sau hắn bảo

tau ly hôn với vợ rồi mày ạ

Tôi cũng nâng ly chúc mừng bạn ly hôn thành công tốt đẹp

Hai năm sau nàng thành vợ tôi

Hắn tới chúc mừng tôi kết hôn thành công rực rỡ

Hai năm sau nữa tôi và vợ tôi ly hôn

Hắn lại tới chúc mừng tôi ly hôn thành công mỹ mãn

Nàng tái hôn với hắn và tôi lại chúc mừng 

Tình bạn chúng tôi không bao giờ phai nhạt.

bởi con hắn con tôi đều là con nàng.

 

 

Tù  yêu

 

Tôi bỏ tù tôi năm năm giọng Huế ba năm giọng nẫu

khi được trả quyền công dân tôi lại bỏ tù tôi mười năm giọng Bắc

cải tạo tốt tôi bỏ tù tôi một đời giọng Quảng

 

Giọng Huế nhẹ hều như hơi thở em phà vào môi tôi những chiều Huế mù sương trên sông Hương giọng nẫu hiền như thành Đồ Bàn hoang phế ngày Ghềnh Ráng hoang vu

giọng Bắc rót mật phù sa sông Hồng sông Thương vào thơ tôi dằn vặt

 

Giọng Quảng chưa mưa lạt mềm buộc chặt sóng nước Vu Gia Thu Bồn Trà Khúc

một gã thậm cù lần trong đời tỉnh thức khi mơ phá phách trong thơ

 

Tôi lại bỏ tù tôi trong thuốc lá cà phê trong những cuộc tình ăn bánh không cần biết giọng vùng miền không cần bận tâm suy nghĩ

 

Đã ghê

 

Đến tuổi không kham nổi yêu xác cánh cửa tù năm xưa lại về

người tình nguyện mất quyền công dân không còn trẻ

vẫn chiều chiều nắm tay vào chấn song phòng biệt giam

ngóng về phía gió chướng triều lên chờ đợi một con đò ảo ảnh

nếu như tôi không bước vào sau chấn song nhà tù

thì tôi không biết giọng nào đây nhốt tôi

trong căn nhà có mùi hương xưa phảng phất

gặm nhấm giọng chung thủy đơn âm tiết của tù yêu .

 

– Nguyễn Hàn Chung

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.