Hôm nay,  

Trang Thơ

22/03/202320:02:00(Xem: 3849)

Chiều

THY AN

 

 

Nào

 

ngọn cỏ nào nằm ướt bên sườn đồi

cũng là cỏ làm nên châu thổ

thêu dệt mộng mơ bao nhiêu năm

ngọn lửa nào đốt lên run tay

cũng là lửa của nén nhang phừng cháy

khóc kẻ ra đi thương người ở lại

ánh sáng và bóng tối

bên này bên kia

chỗ cao chỗ thấp của tâm thức bồi hồi

 

bông hoa nào nở ra khu vườn  hoang dã

nhắc nhở mùa xuân trong lòng

khoảng đời niềm riêng góc lặng

những đam mê không nói hết

hành trang bỏ lại và bầy chim ra đi không hát ca

 

bàn tay nào vẽ lên thiên mộng

cũng là bàn tay nắm lại vun trồng

mưa trên đồi

tuyết trên sông

hạt sương mong manh trên cỏ

mỏi mệt thấm lòng…

 

vết thương nào mong được chữa lành

bằng mũi kim đâm vào quên lãng

buổi chiều dài thăm thẳm

như con đường độc đạo tử sinh

người bạn già trở về mang bài thơ vội vã

dúi vào trái tim khô lạnh

không nói nên lời chữ nghĩa lâng lâng…

 

 

 

Tình thi sử

 

Cổ Loa gạch đá không còn một viên

thần Kim Quy mất nỏ

và con rùa thần vỡ mu chìm xuống giếng

em đến nơi này bằng trái tim hạn hẹp

nên không mở nổi cánh cửa thiên thu

đã nhốt mối tình TrọngThủy Mỵ Châu trong tuyệt vọng

 

trái tim kẻ si tình xẻ hai

về đây bới tìm lông ngỗng

như chữ nghĩa lạc loài

vụng về bay qua phố nhỏ

những kẻ bước hụt trật lề lịch sử 

cố nhắn gửi và bám víu bao la

 

hồn thiên mộng hát ca trên cỏ xanh

cổ xứ xa mờ mấy bàn tay vẫy

hạt mưa rơi thấm áo

tóc hư hao giấu nỗi buồn thi sử

đi bảy mươi năm chưa thấy núi, chưa thấy rừng

im lặng mơ hồ cánh đồng vô tận

kiên nhẫn nào trôi mãi như sông

 

một chút lửa thắp lên ấm lòng

bởi buổi khai thiên trời còn lạnh

áp tai nhau lên tim

nghe rộn rã tiếng nổi chìm

đêm bình yên lay động

có mỗi tình yêu để nhắc

và để nhớ…

 

-- thy an

 

*

 

LÊ MINH HIỀN

 

 

Đêm

 

Có một thế giới khởi sự sau một ngày:
đêm.


đêm, người bạn đang độc hành cùng tôi
qua nửa đời còn lại,
vô tình hay thầm lặng
đến
và đi
ngày qua ngày.

Ngủ trong Đêm.
những cơn mơ trầm cảm
nơi lãnh địa bí hiểm
con quái vật khổng lồ ghê rợn
ngấu nghiến tâm hồn tôi
trăm năm thơ dại
cơn hồng thủy duy nhất và cuối cùng
hủy diệt tâm hồn tôi
ngàn năm thơ dại.
may mà hiếm hoi
nên hoài nuối tiếc
em hiển hiện
cứu rỗi tâm hồn tôi
trăm ngàn năm thơ dại
sao nụ cười thật quen
em, của tôi tiền kiếp
một giấc mơ

Thức với đêm
tâm hồn tôi,
những bài thơ
sẽ ở lại
sau một đời sống
như Hằng Hà sa số đời sống cứ đến rồi đi
sau cuộc rong ruổi bản năng nghìn dặm thiên di dần về hư vô thiên thu cố quận
qua độc đạo
trăm năm cô đơn

 

Nhng chuyến xe đêm

 

Như những chuyến xe đêm

những giấc ngủ,

chuyến xe đêm nay đến muộn

trong cuộc hành trình

gập ghềnh

đứt khúc

 

Người hành khách

nửa mê

nửa tỉnh

chệnh choạng

ngây ngây

ghé những trạm nghỉ

bước xuống đi vào restroom

trong vô thức

 

Sau trạm nghỉ cuối cùng

người hành khách,

không trở lại chuyến xe đêm,

đi ra khỏi nhà

vừa khi cơn mộng du biến mất

sương mờ rạng sáng

vừa nhớ lại

hình như mình vừa bỏ lại

bỏ lại...

một cô gái dễ thương vô cùng

trên chuyến xe đêm vừa rồi

với nụ cười

vẫn còn

đâu đây

trong khi chuyến xe đã mất hút

vương lại

đâu đây,

không phải mùi xăng,

mùi hương ngoan

mật ngọt

từ nụ cười ngày xưa

bỏ lại người hành khách

còn ngơ ngác

còn dại khờ

bên lề đường một thành phố không tên vô tình

bên chợ đời thương trường nhân gian bản ngã thị phi

bên cạnh gốc đa trăm năm lăn lóc những cái bình vôi qua thời gian đã thành ra đặc ruột

 

Người hành khách sống vật vờ

sống ảo suốt ngày để chờ

chiều về, đêm đến có chuyến xe đêm trở lại

may ra

trên chuyến xe có một cô gái  

đến từ ngày ấy, xa lắc lơ

hay từ tiền kiếp

với nụ cười

hiền ngoan

mật ngọt

 

Lê Minh Hiền

(Stanton, California)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.