Hôm nay,  

Trang Thơ

22/03/202320:02:00(Xem: 3371)

Chiều

THY AN

 

 

Nào

 

ngọn cỏ nào nằm ướt bên sườn đồi

cũng là cỏ làm nên châu thổ

thêu dệt mộng mơ bao nhiêu năm

ngọn lửa nào đốt lên run tay

cũng là lửa của nén nhang phừng cháy

khóc kẻ ra đi thương người ở lại

ánh sáng và bóng tối

bên này bên kia

chỗ cao chỗ thấp của tâm thức bồi hồi

 

bông hoa nào nở ra khu vườn  hoang dã

nhắc nhở mùa xuân trong lòng

khoảng đời niềm riêng góc lặng

những đam mê không nói hết

hành trang bỏ lại và bầy chim ra đi không hát ca

 

bàn tay nào vẽ lên thiên mộng

cũng là bàn tay nắm lại vun trồng

mưa trên đồi

tuyết trên sông

hạt sương mong manh trên cỏ

mỏi mệt thấm lòng…

 

vết thương nào mong được chữa lành

bằng mũi kim đâm vào quên lãng

buổi chiều dài thăm thẳm

như con đường độc đạo tử sinh

người bạn già trở về mang bài thơ vội vã

dúi vào trái tim khô lạnh

không nói nên lời chữ nghĩa lâng lâng…

 

 

 

Tình thi sử

 

Cổ Loa gạch đá không còn một viên

thần Kim Quy mất nỏ

và con rùa thần vỡ mu chìm xuống giếng

em đến nơi này bằng trái tim hạn hẹp

nên không mở nổi cánh cửa thiên thu

đã nhốt mối tình TrọngThủy Mỵ Châu trong tuyệt vọng

 

trái tim kẻ si tình xẻ hai

về đây bới tìm lông ngỗng

như chữ nghĩa lạc loài

vụng về bay qua phố nhỏ

những kẻ bước hụt trật lề lịch sử 

cố nhắn gửi và bám víu bao la

 

hồn thiên mộng hát ca trên cỏ xanh

cổ xứ xa mờ mấy bàn tay vẫy

hạt mưa rơi thấm áo

tóc hư hao giấu nỗi buồn thi sử

đi bảy mươi năm chưa thấy núi, chưa thấy rừng

im lặng mơ hồ cánh đồng vô tận

kiên nhẫn nào trôi mãi như sông

 

một chút lửa thắp lên ấm lòng

bởi buổi khai thiên trời còn lạnh

áp tai nhau lên tim

nghe rộn rã tiếng nổi chìm

đêm bình yên lay động

có mỗi tình yêu để nhắc

và để nhớ…

 

-- thy an

 

*

 

LÊ MINH HIỀN

 

 

Đêm

 

Có một thế giới khởi sự sau một ngày:
đêm.


đêm, người bạn đang độc hành cùng tôi
qua nửa đời còn lại,
vô tình hay thầm lặng
đến
và đi
ngày qua ngày.

Ngủ trong Đêm.
những cơn mơ trầm cảm
nơi lãnh địa bí hiểm
con quái vật khổng lồ ghê rợn
ngấu nghiến tâm hồn tôi
trăm năm thơ dại
cơn hồng thủy duy nhất và cuối cùng
hủy diệt tâm hồn tôi
ngàn năm thơ dại.
may mà hiếm hoi
nên hoài nuối tiếc
em hiển hiện
cứu rỗi tâm hồn tôi
trăm ngàn năm thơ dại
sao nụ cười thật quen
em, của tôi tiền kiếp
một giấc mơ

Thức với đêm
tâm hồn tôi,
những bài thơ
sẽ ở lại
sau một đời sống
như Hằng Hà sa số đời sống cứ đến rồi đi
sau cuộc rong ruổi bản năng nghìn dặm thiên di dần về hư vô thiên thu cố quận
qua độc đạo
trăm năm cô đơn

 

Nhng chuyến xe đêm

 

Như những chuyến xe đêm

những giấc ngủ,

chuyến xe đêm nay đến muộn

trong cuộc hành trình

gập ghềnh

đứt khúc

 

Người hành khách

nửa mê

nửa tỉnh

chệnh choạng

ngây ngây

ghé những trạm nghỉ

bước xuống đi vào restroom

trong vô thức

 

Sau trạm nghỉ cuối cùng

người hành khách,

không trở lại chuyến xe đêm,

đi ra khỏi nhà

vừa khi cơn mộng du biến mất

sương mờ rạng sáng

vừa nhớ lại

hình như mình vừa bỏ lại

bỏ lại...

một cô gái dễ thương vô cùng

trên chuyến xe đêm vừa rồi

với nụ cười

vẫn còn

đâu đây

trong khi chuyến xe đã mất hút

vương lại

đâu đây,

không phải mùi xăng,

mùi hương ngoan

mật ngọt

từ nụ cười ngày xưa

bỏ lại người hành khách

còn ngơ ngác

còn dại khờ

bên lề đường một thành phố không tên vô tình

bên chợ đời thương trường nhân gian bản ngã thị phi

bên cạnh gốc đa trăm năm lăn lóc những cái bình vôi qua thời gian đã thành ra đặc ruột

 

Người hành khách sống vật vờ

sống ảo suốt ngày để chờ

chiều về, đêm đến có chuyến xe đêm trở lại

may ra

trên chuyến xe có một cô gái  

đến từ ngày ấy, xa lắc lơ

hay từ tiền kiếp

với nụ cười

hiền ngoan

mật ngọt

 

Lê Minh Hiền

(Stanton, California)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bốn câu thơ này được bố tôi (nhà văn Doãn Quốc Sỹ) ghi lại như một giai thoại văn học, làm lời tựa cho tác phẩm Mình Lại Soi Mình. Bố tôi kể rằng khoảng năm 1984, phong trào vượt biên đang rầm rộ. Một người bạn mới gặp đó, mà hôm sau đã vượt biên rồi! Vào một ngày đẹp trời, bố tôi đạp xe từ Sài Gòn qua Làng Báo Chí bên kia cầu xa lộ để thăm chú Nguyễn Đình Toàn. Đến giữa cầu thì thấy chú đang đạp xe theo chiều ngược lại, cũng định đến thăm mình ở căn nhà hẻm Thành Thái. Hai người bạn gặp nhau giữa cầu. Có lẽ chú Toàn đã nhìn những cánh đồng lúa bên Thủ Thiêm, tức cảnh sinh tình, ngẫu hứng làm ra bốn câu thơ này.
Hôm đó, một chàng đương từ Sài Gòn đạp xe tới thăm bạn ở Làng Báo Chí bên kia cầu xa lộ. Chàng vừa đạp xe tới cầu thì gặp bạn cũng đương từ bên kia cầu phóng sang dự định về Sài Gòn thăm mình...
Có một người sống trong thành phố, bận rộn, tranh đấu, xông pha, lăn lộn giữa sự phức tạp như một sinh trùng bị mắc lưới nhện vẫn phải vùng vẫy để sống, để chờ ngày bị ăn thịt. Một hôm, ông ta đi du lịch, thấy một phong cảnh đẹp đến mức lặng người, cảm thấy siêu thoát, nhận ra đạo lý của mục tiêu tại sao con người tồn tại. Nhưng vẫn phải trở về phố cũ, y như Lưu Nguyễn phải trở về làng cũ vì những lý do chính xác, vì lẽ phải của những bổn phận làm người. Ông vẽ lại phong cảnh đó trên một vách tường lớn. Mỗi khi đời giông bão, mỗi khi hồn âm u, mỗi khi trí khổ não, ông đến trước bức tranh, nhìn ngắm, ngẫm nghĩ để tìm thấy sự thanh thản, sở hữu cảm giác bình an. Ông nghe được tiếng hát “chiều nay vang lừng trên sóng.” Ông thấy được “Âm ba thoáng rung cánh đào rơi. Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời.” Hồn ông “lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan.” Những giờ phút tĩnh lặng đó, tâm trí ông “Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quên … là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi…”
Bùi Giáng qua đời tại Sài-gòn tháng 10-1998, tới tháng 10 năm này, 2023, đúng là 25 năm, một phần tư thế kỷ “Vắng bóng người Điên giữa kinh thành”. Trong tất cả các bút hiệu của Bùi Giáng, Sáu Giáng là tên hiệu dễ thương với mọi người, Bùi Giáng lại thích “anh Sáu Giáng” nhất; bởi/từ cái gốc gác quê mùa, đồi sim, ruộng lúa, tiếng gà trưa, con cò bãi nước xa, cái nền nhà lát gạch hoa, đứa con thứ sáu trong gia đình tộc Bùi, thằng bé Giáng tập bò tập đi.
Tôi để ý đến hắn, không phải vì cái tên với cái họ “lạ”, họ Mai. Cũng chẳng phải vì hắn là công tử con nhà giàu. Nghe nói ba hắn đi qua Mỹ từ ngày chạy loạn 30/4, nên cuộc sống mấy mẹ con rất ung dung khá giả. Mới học lớp 6 thôi, mà hắn đi học mặc quần tây áo sơ mi “đóng thùng” chỉnh tề, mang giày xăng-đan, tay còn đeo chiếc đồng hồ nữa cơ...
Ghi lên đá một thuở áo sờn vai / Vác thập ác quảy tiêu điều âm vọng / Nợ máu xương, nợ người lận đận / Của một thời vàng tím trẻ trai...
Một buổi trưa chan hòa ánh nắng trong vắt như thủy tinh của một ngày nắng ấm cuối đông, chớm bước sang xuân. Cảnh vật như bừng sáng dậy sau những ngày u ám. Tôi và Thi ngồi bên nhau tại một nơi vắng vẻ trong khu vườn sau nhà, dưới tàn cây mít, gần bên chiếc cầu ao soi bóng lung linh trên mặt nước đang gợn sóng lăn tăn...
Tôi có một người anh cá tính hoang nghịch trổ trời mà lên. Từ nhỏ, thích trèo cây trong vườn. Có bữa leo phải cành ổi giòn bị gãy, thế là anh rớt xuống nghe uỵch một cái như trái mít rụng. Anh đau điếng cảm giác rêm ram cả mạnh sườn...
Hồi ở trại tỵ nạn Thailand, tôi có lúc đã quay cuồng “chạy sô” đi học 4 thứ tiếng.
Thơ của hai thi sĩ Thy An & Lê Minh Hiền
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.