Hôm nay,  

Gia tài

07/04/202318:57:00(Xem: 4910)
Truyện

Meo-Fumika Koda

 

Cô tôi chết, gia tài của cô để lại cho con mèo. Thỉnh thoảng, đọc báo, thấy có một nhà giàu nào đó, chết, để lại gia tài kếch sù cho thú cưng, tôi cho rằng họ là những người lập dị và keo kiệt. Cô tôi, chắc chắn là keo kiệt. Cô chết tôi không dự đám tang. Chỉ biết cô qua đời vì nhận được lá thư gửi từ văn phòng luật sư quản lý tài sản của cô. Thư đòi nợ.
     Mười năm trước, tôi mượn tiền của cô. Tôi thiếu nợ xã hội đen và tôi biết hậu quả nếu không trả nợ đúng kỳ. Do đó tôi khẩn cầu với cô.
     “Xin cô giúp cháu. Họ bảo nếu cháu không trả số nợ này họ sẽ báo với cơ quan cháu làm việc.”  Tôi làm bảo vệ cho một ngân hàng. Ông Giám Đốc có họ hàng xa ba năm vói không tới với bên nhà nội. Tôi được cho ở trong một căn nhà nhỏ với điểu kiện là tôi phải làm công việc bảo vệ và chạy vặt 16 giờ một ngày 6 ngày một tuần. Nếu người ta biết tôi nợ nần vì cờ bạc là tôi sẽ bị đuổi việc. Và mất việc là mất chỗ ở.
     Cô không muốn cho tôi mượn tiền, nhưng nợ xã hội đen thì coi như tôi rơi vào chỗ chết. Cô không thể không cứu.
     “Cháu cần bao nhiêu?”
     Nợ năm ngàn, nhưng mỗi lần cầu cứu là một lần khó khăn nên tôi tăng số tiền muốn mượn để dễ xoay trở.
     “Dạ, hai chục… ngàn. Đô la!”
     “Cô sẽ ký giấy đứng đơn giúp cháu mượn tiền ngân hàng. Năm ngàn thôi. Và cháu phải ký giấy nợ có thị thực chữ ký ở văn phòng luật sư.”
     Tôi trả nợ được vài tháng mỗi tháng vài trăm, rồi tôi lặn mất luôn. Tôi biết. Cô biết trước là tôi sẽ quỵt nợ. Và cô trả nợ giúp tôi.
 
Tôi đến văn phòng luật sư. Thay vì trả nợ, tôi mang tất cả giấy tờ chứng minh tôi là cháu gọi cô tôi bằng cô. Tôi đòi kiện con mèo vì tôi là người trong dòng họ chính thức. Luật sư của tôi và của cô sau khi bàn cãi cẩn thận đều đồng ý là tôi không có hy vọng thắng vì di chúc của cô rất rõ ràng và đúng theo pháp lý. Cô có xác nhận tôi là cháu của cô lúc còn sống nhưng cô không để gia tài cho tôi. Tuy vậy, luật sư của cô nói:
     “Bà Lê, theo di chúc, muốn chúng tôi giúp bà chọn một hội nuôi thú vật, hoặc một người thật sự yêu thương thú vật, để nuôi con mèo của bà. Rơi là một con mèo bị mẹ nó bỏ rơi. Bà nhặt nó trên hè phố, mang về nuôi. Bà muốn con mèo không những được nuôi nấng, mà còn được thương yêu. Yêu cầu của bà Lê là con mèo được âu yếm, vuốt ve, được cho phép ngồi trên lòng, và ngủ chung giường nếu con mèo muốn như thế. Di chúc của bà Lê dặn chúng tôi, những người quản lý tài sản của bà, trả lương hằng tháng cho người nuôi con mèo, trả tiền thức ăn và thuốc men cho mèo. Nếu người nuôi mèo không có chỗ ở, có những chung cư không cho phép nuôi mèo, tôi có thể thu xếp để người ấy ở trong cửa tiệm bán đồ cũ của bà Lê.”
     Tôi thấy giải pháp này khá tiện lợi. Tôi tránh được chuyện kiện tụng, tốn tiền luật sư mà có thể bị thua kiện. Còn bên kia tránh được chuyện phiền toái, mất thì giờ, mà thì giờ của luật sư thì đắt gấp mấy lần lương của tôi.
     Tôi ngạc nhiên vì chính ông luật sư đến gặp tôi để giao chìa khóa, thay vì gửi một nhân viên dưới quyền, ở cửa tiệm bán đồ cũ của cô tôi. Cửa tiệm có bảng hiệu “Second Hand” sơn màu đỏ sậm. Tiệm bán bàn, ghế, sa lông, sách, đèn, máy ảnh, quần áo và những đồ lỉnh kỉnh như đồ chơi, đồ nữ trang đã dùng nhưng còn tốt. Đồ đạc khá tươm tất, ngăn nắp. Tầng dưới là cửa tiệm. Tầng trên là căn gác lửng có tường kính, phòng ngủ, và phòng làm việc. Người ở tầng trên có thể quan sát tầng dưới. Cả hai tầng đều có nhà vệ sinh. Một cái bếp nhỏ cho người nấu ăn đơn giản. Ông ta mang theo một cái lồng trong đó có con mèo. Ông có vài điều cần dặn dò về cách khóa cửa mở cửa. Quan trọng nhất là không có chìa khóa sơ cua.
     “Có vẻ như bà Lê và con mèo ở đây thường xuyên hơn là ở nhà của bà. Ngày nào ông còn nuôi con mèo thì ông còn có thể ở đây mà không tốn tiền thuê nhà. Hằng tháng, một phần tiền bà Lê chu cấp để nuôi mèo sẽ được trích ra để trả vào số nợ năm ngàn đô la ông còn thiếu bà Lê.      Những món hàng trong cửa tiệm sẽ được thu xếp để bán đấu giá một ngày gần đây.”
     “Cô tôi keo kiệt quá. Đã chết rồi mà vẫn không tha món nợ cho tôi. Tôi được nuôi con mèo cho đến bao giờ. Và nếu con mèo chết đi thì sao?”
     “Rơi là con mèo đực, loại mèo tuxedo, lông đen, chân trắng, cổ trắng, giống như một người mặc áo tuxedo đen, đeo nơ trắng, và găng trắng. Rơi chỉ chừng bốn tuổi thôi. Loài mèo, nếu được nuôi tử tế có thể sống đến mười lăm năm, thậm chí hai mươi năm. Xin nhớ là chúng tôi không bắt buộc hay nài ép ông phải nuôi con mèo. Chúng tôi chỉ nể tình ông là cháu bà Lê nên cho ông tạo cơ hội để ông nuôi mèo trả nợ cho bà Lê thay vì đưa ông ra pháp luật. Bà Lê theo tôi nhận biết, không phải là người keo kiệt.”
     “Cô tôi ky cóp suốt đời, không biết chưng diện, một cái áo khoác cũ mặc hằng bao năm, suốt đời chưa bao giờ đi một cái xe hoàn toàn mới, ăn chỉ toàn rau đậu chẳng mấy khi ăn thịt thà, chẳng biết thưởng thức món ngon vật lạ ở nhà hàng, chẳng bao giờ đi du lịch nước ngoài, chẳng bao giờ biết khoái lạc của trường đua, sòng bạc, thậm chí cũng không đi xem xi nê. Cô rửa chén giặt đồ, ngay cả đi tắm cũng tránh không dùng nhiều nước, không mở sưởi cao để bớt tiền điện, ra khỏi phòng là tắt đèn, ca củm đến mức như vậy không gọi là keo kiệt thì là gì?”
     “Thật sự, không ai biết là bà Lê có gia tài lớn như vậy. Bà đầu tư vừa bất động sản, vừa chứng khoán, rất cẩn thận. Bà có kinh nghiệm về đồ cổ nên mua được nhiều món đồ cổ người ta bán garage sale với giá bỏ đi. Người ta chỉ nghĩ là bà Lê bán đồ cũ “second hand” chứ không ngờ bà mua bán đồ cổ. Với gia tài bà Lê để lại, tôi nghĩ là bà có thể vui chơi nhiều hơn, nhưng tôi nghĩ bà thích cách sống đơn giản đạm bạc, chứ không phải keo kiệt. Tôi hiểu quan điểm của bà. Tránh lãng phí điện nước cũng là một cách bảo vệ môi trường. Bà đi du lịch nước ngoài nhiều lần, chỉ tại ông không biết. Bà nghiên cứu văn hóa cổ của nhiều quốc gia đặc biệt là châu Á. Trong di chúc bà để phần cho nhà thờ bà thường đi lễ, thư viện địa phương, vài chục học bổng cho học sinh nghèo, và Soup Kitchen nơi chẩn phát thức ăn cho người không nhà. Tôi thường nghe bà nói, ‘Ăn thì cho, buôn thì so.’  Tôi không hiểu lắm từ buôn-thì-so, nhưng tôi đoán, cái nào đáng cho thì cho, buôn bán thì phải so đo, còn hễ nói mượn thì phải trả.”
     “Nếu con mèo chết đi thì sao?” Tôi lập lại câu hỏi.
     “Thì chúng tôi sẽ tiếp tục với phần sau của di chúc mà chúng tôi không thể tiết lộ ngay bây giờ.”
 
Tấm ảnh trắng đen của cô treo trên tường nhìn tôi đăm đăm. Tôi thầm nghĩ, có lẽ cô chụp ảnh trắng đen để ít tốn tiền hơn là chụp ảnh màu. Tôi quay hướng nào cũng không thoát khỏi tầm mắt của cô. Giường này là nơi tôi sẽ ngủ. Con mèo không nhất thiết sẽ được ngủ chung giường với tôi. Ngay cả chung phòng cũng không. Tôi vốn không ưa thú vật. Tôi chưa hề nuôi nấng săn sóc người ta, bất cứ ai, kể cả vợ con tôi, bao giờ. Tôi chỉ có thể chăm sóc bản thân tôi. Tôi lấy vợ để có người yêu thương, chăm sóc cơm nước và giặt quần áo cho tôi. Khi có con, vợ tôi là người chăm sóc nuôi nấng đứa con. Điều này vợ tôi mù quáng không nhận ra cho đến khi tôi không thể trang trải cuộc sống của chính tôi, vì tôi thích hưởng thụ cuộc sống xa hoa lại thêm phần mê cờ bạc. Cô ấy bỏ tôi và nuôi đứa con không cần đến tôi. Tôi thật ra chỉ là gánh nặng của cô ấy.
     Con mèo nhìn tôi vẻ lạnh lùng khinh khỉnh. Trên giường có hai cái gối, nó nằm chễm chệ trên một cái. Tôi suỵt suỵt đuổi, nó tỉnh bơ. Tôi đẩy nó ra khỏi giường. Nó nhảy xuống nền nhà, đến chỗ bàn làm việc nó nhảy lên bàn, rồi lại quan sát tôi bằng đôi mắt xanh lè. Chập sau, nó lại nhảy lên giường leo lên cái gối bên cạnh tôi. Ánh nhìn của nó và cái nhìn từ tấm ảnh của cô tôi làm tôi khó chịu. Tôi đứng dậy gỡ tấm ảnh đặt xuống nền nhà và úp mặt vào trong tường. Còn con mèo, tôi xách cổ nó, tống ra khỏi phòng, đóng cửa lại. Tôi không để ý, ở phần dưới của cánh cửa có một ô nhỏ có cửa, dành cho con mèo muốn ra vào tùy ý.
     Nửa đêm, con mèo quay trở lại nằm trên cái gối. Tôi ngồi bật dậy, giật cái gối cáu kỉnh, ném xuống nền nhà. Rơi, đủng đỉnh bước qua, nằm lên cái gối của tôi. Nó nhìn tôi như thể muốn bảo tôi chỗ này là của nó. Khi tôi thò tay nắm cổ nó thì nó gào lên và quào mạnh vào tay tôi. Rơi nhảy lên bàn, tha chùm chìa khóa, và biến mất vào bóng tối. Khi tôi đi tìm Rơi, thì mới nhớ ông luật sư có dặn rằng. “Tất cả các cửa trong nhà đều là cửa sắt, phải có chìa khóa mới mở được, dù mở từ bên trong hay bên ngoài. Có lẽ vì bà Lê ở một mình nên bà rất cẩn thận với việc dùng khóa. Đây là loại khóa không có chìa sơ cua. Ngay cả người dùng nếu muốn đặt làm chìa sơ cua những nơi làm chìa khóa sẽ không làm vì như thế là phạm luật.” 
     Con mèo hình như thoát ra ngoài bằng một lỗ hổng nào đó tôi tìm hoài mà không thấy nó. Tôi sẽ gọi điện thoại cho ông luật sư, để nhờ ông tìm cách mở cửa cho tôi ra. Nhưng cả ngày hôm qua tôi không sạc điện vào điện thoại bây giờ điện thoại tắt ngấm rồi. Liệu có ai có thể cứu tôi không?  Người ta thường bảo rằng đừng nên gian tham dối gạt tiền bạc của bà già keo kiệt, bởi vì bà ấy sẽ đòi nợ cho đến khi nào con nợ chết mới thôi.

 

– Nhị Ngã

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.