Hôm nay,  

Tháng Tư, Tết Thái

16/04/202310:32:00(Xem: 3215)
Tùy bút

IMG_5308

Sau ba tuần ở trại nhỏ Tha Luông miền Nam nước Thái, nhóm tàu chúng tôi được chính thức nhập trại Panatnikhom vào giữa tháng 1 năm 1990. Cuộc sống dần trở nên quen thuộc nơi trại tỵ nạn, mỗi ngày trôi qua như mọi ngày. Sáng sớm 7 giờ Quốc Ca Thái vang lên, sau đó một ngày mới bắt đầu, chợ búa trường học, văn phòng Cộng Đồng cũng như các văn phòng thiện nguyện như Cao Ủy, Bưu Điện rộn ràng kẻ qua người lại, cứ thế đến 6 giờ chiều, Quốc Ca Thái lại vang lên, đồng nghĩa đến giờ “hoàng hôn”, mọi người lo cơm nước, tắm rửa, nghỉ ngơi để có sức cho ngày mai, lại như mọi ngày, chờ đợi mỏi mòn trong trại cấm.
     Bữa sáng hôm đó, còn mắt nhắm mắt mở sau bài Quốc Ca, tôi bước ra cửa nhà chuẩn bị đánh răng thì bị một nhóm thanh niên trong lô tạt cả thau nước lạnh khắp người tôi làm tôi giật mình trong khi họ cười thích chí. Tôi nổi quạu:
     – Tự dưng mấy người tạt nước vào người tui, là sao?
     – Ối, chị mới nhập trại nên chưa biết đó thôi, tuần này là Tết!
     – Tết nữa hả? Mới Tết hồi cuối Tháng Một đây mà?
     – Không phải Tết Việt, mà là Tết Thái.
     – Ừa, mà mắc mớ gì tạt nước?
     – Trời! Đó là phong tục của người ta, nhập gia tùy tục, chị nên chuẩn bị tình thần bị ướt mấy ngày sắp tới, vì theo niềm tin của người Thái, ngày đầu năm càng bị tạt nước nhiều càng gặp may mắn suốt cả năm.
     Đó là câu chuyện Tết Thái của năm tỵ nạn đầu tiên còn nhiều ngơ ngác, chớ ba năm tiếp theo sau đó, tôi không những quen với chuyện “ướt át đầu năm”, mà còn có thêm những người bạn Thái, cùng họ vui Tết, ăn uống, tặng quà, nhảy múa thật vui. Trong nhóm nhân viên người Thái làm Cao Ủy và Văn Phòng điền Form của Bộ Nội Vụ Thái mà nhóm thiện nguyện Cao Ủy và Bưu Điện người Việt Nam tỵ nạn chúng tôi quen biết qua lại, tôi thân nhất với Tha Nu, một chàng trai Thái bằng tuổi tôi, da ngăm đen, rất vui vẻ và có duyên. Tha Nu thân thiện hòa đồng với các đồng nghiệp xung quanh dù là người Thái hay người Việt., Lào, Cambodia tỵ nạn nên dễ dàng ăn hết các thức ăn lạ của món Việt Nam, món Lào, món Cambodia mỗi lần có tiệc pot luck và dĩ nhiên Tha Nu cũng mang món ăn Thái giới thiệu với chúng tôi.
     Về ngày Tết Thái, Tha Nu giải thích cặn kẽ lịch Tết theo Phật Lịch của Thái và thường rơi vào ngày 13 cho đến ngày 15 tháng 4 dương lịch hàng năm. Đây là lễ hội lớn nhất của Thái, mang tên Songkran, với rất nhiều phong tục được lưu truyền từ bao thế hệ xa xưa. Người ta chuẩn bị dọn dẹp cửa nhà cả tháng trước đó cho sạch sẽ, rực rỡ. Gần đến ngày hội Songkran thì chuẩn bị nấu nướng các món ăn truyền thống để đón khách, gia đình sum vầy và mang lên Chùa cúng cho các sư sãi.
     Trước mùa Tết Thái năm ấy một tuần, tôi và vài người trong nhóm bưu điện có danh sách chuyển về trại Sikiew chờ thanh lọc. Chúng tôi chuẩn bị tiệc chia tay kết hợp với mừng Tết Thái và Tết Cambodia cũng rơi vào sát thời điểm ấy, ôi chao là vui. Phong tục của Cambodia hơi khác, thay vì tạt nước thì họ thích bôi phấn thơm cho nhau, lại một phen tưng bừng náo loạn cả văn phòng thiện nguyện. Sáng hôm sau, là ngày đến Chùa theo nhóm bạn Cambodia dâng thức ăn hoa quả cho các sư sãi, một tập tục đáng yêu của xứ này. Từng gia đình thành kính, bưng những thố chạm trổ bằng bạc hoặc bằng vàng, xếp hàng theo thứ tự tiến vào Chùa, đặt thức ăn theo hàng dọc ngay trước chánh điện. Sau giờ lễ tụng kinh, mọi người cùng các sư ngồi với nhau, ăn uống nói chuyện rôm rả.
     Hôm sau nữa là buổi potluck Tết Thái và tiệc chia tay, các món ăn bốn miền (Laos– Thai– Viet–  Cambodia) rất ngon làm lưu luyến kẻ ở người đi. Món Lào, tôi thích cơm nếp nấu trong thúng tre hình phễu, còn nóng hổi, bày ra ăn với món xào đặc trưng của Lào, là một số nội tang heo, bò, gà băm nhỏ xào cay xè với xả và các món gia vị khác. Món Thái, ngoài Pad Thai khoái khẩu, tôi còn thích món miến xào thịt và bắp cải xắt nhỏ, bọc bên ngoài lớp trứng tráng dòn đậm đà hương vị ăn với nước tương cay nóng. Món Cambodia tôi không hạp với mắm bò hóc nhưng bánh chuối nướng của họ béo bùi làm món tráng miệng thơm ngon. Món Việt Nam dĩ nhiên là chả giò luôn luôn được chiếu cố tận tình. Cuối buổi tiệc, mọi người theo phong tục Thái, cột cho nhau những sợi dây nhiều màu sắc nơi cổ tay, chúc nhau nhiều may mắn, và nhắc nhớ nhau đừng “xa mặt cách lòng”.
     Trên đường ra xe ngoài cổng trại để trở về nhà ngoài thị trấn (vì sau đó là Tết Thái các văn phòng được nghỉ lễ), Tha Nu trao cho tôi một gói nhỏ:
     – Bạn mở ra đi! Quà may mắn đấy, chúc bạn đậu thanh lọc và mau quay về đây nhé.
     Tôi hồi hộp mở giỏ quà, ngạc nhiên không nói nên lời, Tha Nu liền hỏi:
     – Bạn không thích quà này sao?
     – Trời ơi! Phải nói là rất, rất thích, vì đây là ký ức tuổi thơ, xa xôi lắm rồi, mẹ tôi thường hay mua thưởng cho tôi mỗi khi tôi học giỏi. Nhưng sau năm 1975, đất nước bị đổi chủ, hầu như tôi không còn thấy món ăn vặt tuyệt vời này nữa.
     – Thế à, tôi thật hạnh phúc khi thấy bạn vui vì món quà gợi nhớ kỷ niệm này.
     Tôi nâng niu gói quà, đó là những hình thù đủ màu sắc rực rỡ bóng loáng, hình dạng các loại trái cây như xoài, măng cụt, nho, táo ... nhỏ nhắn cỡ ngón tay, nhưng làm bằng đậu xanh nấu chín, thật đẹp mắt và khi ăn cũng rất thơm ngon.
     Đó là một trong rất nhiều kỷ niệm trong quãng thời gian bốn năm ở trại tỵ nạn. Với nhiều thuyền nhân, bộ nhân ở trại Thailand, nạn hải tặc hoành hành vẫn là nỗi ám ảnh tang thương, nổi tiếng với Đảo Ko Kra (còn gọi là Đảo Hải Tặc), hoặc những trại nhỏ như Long Giai, Khao I Dang có những tên lính Thái khi lên cơn say đã hành hạ đánh đập những người tỵ nạn Việt Nam không tiếc thương. Nhưng bên cạnh đó, nhiều hơn, là những người Thái chân tình, tử tế, giúp đỡ những người Việt trên con đường tỵ nạn lưu vong.
     Tôi chẳng thể nào quên đêm giá rét cập bờ biển tỉnh Chad của Thái, vợ chồng người ngư dân xứ Thái đón tiếp chúng tôi bằng nụ cười ấm áp, liên tục nhắc đi nhắc lại: “Thailand, Thailand” cho chúng tôi an lòng vì chúng tôi lo sợ tàu đi lạc về Cambodia. Rồi những ngày ở tạm trong khu trại gia binh Cảnh Sát Thái, những người phụ nữ vợ các cảnh sát mở cửa nhà cho chúng tôi vào xem ti vi mỗi ngày (dù chúng tôi chẳng hiểu tiếng Thái), có người còn rộng lượng cho cả thùng mì gói MaMa khi biết chúng tôi đêm khuya đói bụng. Và nhất là những người bạn, người ân nhân Thái mà tôi gặp gỡ trong trại tỵ nạn như chàng Tha Nu mà tôi vừa kể, mà mỗi mùa Tết Thái trở về, tôi bỗng nhớ đến họ và quãng thời gian ấy đến nao lòng.
     Tôi xin kết thúc bài viết này bằng một kỷ niệm khác nữa, nơi mảnh đất tạm dung Thailand thuở nào:

 

GỬI NGƯỜI Ở BANGKOK

 

Lá thư được gửi đi từ Bangkok

Nét chữ nghiêng nghiêng tôi chẳng hề quen

Tôi đã nhận ra anh bởi họ tên

Nơi góc phong bì màu xanh thân ái

 

Anh là luật sư Bộ Nội Vụ Thái

Đến trại Sikiew phỏng vấn thuyền nhân

Có tên thanh lọc một ngày đầu xuân

Tôi đến đó trong âu lo, bỡ ngỡ

 

Nhưng nụ cười anh làm tôi hết sợ

Khi hỏi thăm về đất nước Việt Nam

Rồi hỏi tôi: “Có muốn ở Thailand

Nếu chẳng may cô không đậu thanh lọc?”

 

Anh cũng hỏi về những ngày tỵ nạn

Những chuyện buồn vui nơi trại tạm dung

Tôi nhìn anh, tâm sự hết nỗi lòng

Của chuyến vượt biển chập chùng sóng gió

 

Anh ân cần hỏi thêm nhiều chuyện nữa

Quá khứ qua, hay mộng ước tương lai

Đời tỵ nạn buồn chẳng biết ngày mai

Anh hiểu lắm, cũng tâm hồn trẻ tuổi

 

Cuộc phỏng vấn đã xong sau ba buổi

Anh tiễn tôi ra tận cổng hàng rào

Tôi trở về khu trại dưới nắng chiều

Mang theo ánh mắt hiền hoà, lưu luyến

 

Một năm đợi chờ niềm vui đã đến:

Đậu thanh lọc rồi, tôi ngỡ như mơ

Ngày tôi lên đường đi nước thư ba

Lá thư anh, thay cho lời tạm biệt

 

Cám ơn anh, cám ơn một người bạn

Dù mới quen và chỉ gặp một lần

Đường ra phi trường xao xuyến, bâng khuâng

Chiều Bangkok bỗng vấn vương, gần gũi

 

Rồi hôm nay Tết Thái về “nơi ấy”

Kỷ niệm hiện về quá đỗi thân thương

Anh có còn ở Bangkok hay không?

Mong anh được bình yên và hạnh phúc

 

Thời gian qua nổi trôi theo cuộc sống

Đã lâu rồi tôi chẳng biết tin anh

Lá thư xưa nét chữ đã thành quen

Và Bangkok của anh tôi nhớ mãi!

 

– Kim Loan

(Edmonton, Tháng Tư/ 2023)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thơ của hai thi sĩ: Trần Yên Hòa & Thy An
Chiếc xe hơi chạy trên con đường hẹp, uốn lượn, hai bên là những cánh đồng lúa mì hầu hết đã được gặt xong, đây đó những bó rơm, cỏ khô được cuộn tròn nằm rải rác, những cánh rừng thưa xanh ngắt, những bụi cỏ lau màu tím hồng phất phơ trong gió, những trang trại với hàng chục con cừu, bò, và cả ngựa đang thong dong gặm cỏ, những căn nhà, quán rượu, nhà thờ…hầu hết được xây bằng đá đã xỉn màu vì thời gian, với những cửa sổ bằng kính có khung sơn trắng và kiến trúc đặc thù của vùng Yorkshire...
Kéo dài được hai năm, cuối cùng thì hắn cũng quyết định bỏ trường để về nhà đi buôn. Đây là một việc cân não mà hắn đã dằn vặt vật vã suốt một thời gian dài. Hắn là sinh viên giỏi, vốn được tuyển thẳng vào trường sư phạm, thật tình mà nói thì hắn muốn vào Bách Khoa chứ chẳng phải sư phạm, chọn sư phạm vì được miễn học phí nên miễn cưỡng chấp nhận...
Em yêu dấu: Anh sẽ kiến giải câu nói thời danh của Marcel Proust (*) để qua đó em có thể cầm nắm được trái tim nóng bỏng của anh trên tay. Marcel Proust nói rằng "Tình yêu là đem không gian đổi lấy thời gian”...
Suốt cả tuần nay Tokyo chỉ có một ngày nắng, hôm nay mưa đã tạnh thì khăn gói về vùng Kyoto/Osaka. Hai tuần nữa khi về lại đây thì những cây đào mượt mà nầy chỉ còn những cành cây cằn cỗi, phủ đầy rêu, trơ trụi. Vì thế mà chuôi kiếm của người samurai thường khắc cánh hoa đào để biểu tượng cho cuộc đời hào hùng, đẹp đẽ mà ngắn ngủi, đầy bất trắc.
Thành phố đầu tiên chúng tôi dự tính đến thăm là Thành phố Philadelphia, một thành phố đã từng là thủ đô của Hoa Kỳ trong thời kỳ đầu lập quốc mà nay nó đã trở thành cố đô. Sau đó chúng tôi sẽ đi thăm một vài di tích lịch sử, văn hoá và thắng cảnh đặc biệt của Tiểu bang Pennsylvania nếu thời gian cho phép...
Trong bầu không khí bị ô nhiễm bởi chiến tranh Ukraine, châu Âu nhất là nước Pháp, vị thế và vai trò của Tông thống Pháp Emmanuel Macron – một trong những cột trụ lãnh đạo Liên minh châu Âu – không ngừng bị thử thách. Thêm vào đó, bóng dáng của dịch bịnh Covid-19 vẫn còn lảng vảng đâu đó trong các quốc gia châu Âu. Trong tình trạng như vậy, sinh hoạt văn học nghệ thuật của châu Âu, nhất là của Pháp, vẫn không ngừng phát triển...
Thầy ngồi trên kia, sau cái bàn rộng, chỉ có một quyển sách mỏng trước mặt và không thấy ông mở ra. Như thói quen, ông không viết bài, viết dàn bài trên bảng, phấn với bảng ít khi ông dùng tới, có thể tất cả đã được sắp xếp chuẩn bị chu đáo và có lớp lang trong đầu ông. Đúng vậy, ông vẫn từ tốn nói theo những ý nghĩ dường như vẫn có sẵn trong tâm trí. Ông nói không vấp váp, từ từ, lôi cuốn và thuyết phục. Ông có một « schéma » trình tự đi tới, đi tới không hề áp đảo...
Sau 1975 những người còn ở lại miền Nam Việt Nam không biết những ai đã nghĩ ra và những ai đã là người đầu tiên ra khơi vượt biển đi tìm tự do, để cho dòng người đi sau tiếp nối không bao giờ ngừng nghỉ nếu các trại tị nạn không đóng cửa chấm dứt chương trình cưu mang những người vượt biển. Ai cũng mơ ước, cũng tính đường đi tìm tự do tùy theo hoàn cảnh khả năng tài chính của mình. Bao nhiêu người đã may mắn đến bến bờ và cũng bao nhiêu người bất hạnh bỏ xác ngoài biển khơi!
Ở xóm tôi, từ đầu xóm đến cuối xóm, hầu như nhà nào cũng có người đi vượt biên. Nhưng không phải ai cũng may mắn đến bờ tự do, bởi nếu đếm số người “đi không về và cũng không bao giờ đến” ở xóm cũng cỡ hai chục mạng người, trong đó có cô bạn rất thân yêu của tôi và một gia đình mất một lúc sáu người, đó là gia đình Bà Già Gân...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.