Hôm nay,  

Trang Thơ

17/05/202308:57:00(Xem: 4102)

altar

NGUYỄN HÀN CHUNG

 

Những người già nhớ mẹ

 

 

Những người già nhớ mẹ

nhiều hơn thời thanh niên

Già hóa thành đứa trẻ

gần như là bé con

cựa cái là nước mắt

tự nhiên lăn thành dòng

Thời thanh niên lăn lộn

ít khi nào thảnh thơi

mẹ trong tim đang ngủ

chỉ chưa thức mà thôi

Khi tuổi già chạm đến

đôi mắt người trong mơ

thế là mẹ thức dậy

thành muôn vàn trang thơ

Đừng trách người trai trẻ

ít nhớ mẹ hơn già

nỗi nhớ cô thành khối

đợi một ngày tan ra

 

 

Cái đàn ông

 

Cái gì quyến rũ quá

cũng ẩn tàng gai chông

cái gì yêu mị quá

con cũng nên đề phòng

 

Mẹ gã ngày xưa dạy

mỗi khi gã thất thần

rứa mà gã quên hết

mỗi khi kề nữ nhân

 

Vì quên lời mẹ dạy

thêm cái cốt lần đân

về quê ôm mộ mẹ

xin mẹ thứ lỗi lầm

 

Chao ôi đôi mắt liếc

và lượn lờ eo hông

những bờ cong cổ tích

làm gã quay mòng mòng
      

Gã rất muốn tỉnh táo

sợ sập hầm mắc chông

nhưng đôi mắt loạn thị

chỉ ngẫm đồi nghĩ sông

 

Gã cứ mê rực rỡ

nuốt yêu mị vào lòng

uổng công mẹ gã dạy

bảo con phải đề phòng

 

Gã trốn lánh phương bắc

lại rơi vào hướng đông

ông trời chơi thật ác

cho gã cái đàn ông!

 

Nhưng thiếu cái quái ác

hường nhan sầu mênh mông!

 

***

 

QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

 

Jeux (Games)_Louis Soutter (1871-1942)
Jeux của Louis Soutter (1871-1942).

 

một ngày suy ngẫm  

 

1.

tôi đứng dưới trời nguyệt thực  

miên man hít thở ảo giác rụng rơi

trước ngưỡng cửa mờ sương

nàng nghiêm mặt khước từ lời van xin

trong phút thảng thốt

con thằn lằn ngóc đầu tặc lưỡi  ̶ ̶ ̶ 

“này này người chết đuối mắc cạn

hạnh phúc nào có thật” ̶ ̶ ̶ 

có đáng tin? 

 

2.

mỗi đêm tôi rón rén

trở về giấc mơ của mình

giấc mơ chưa định dạng

kéo dài hơn ngàn lẻ một đêm

chắp nối như bộ phim nhiều tập

rõ ràng vài tập đang chờ cập nhật

với dữ liệu nhạt nhẽo buồn tẻ

như miếng ăn miệng ăn

sofa ghế bàn giường tủ

sáng chiều ai dẫn chó đi ngoài.

 

3.

bài thơ đến chậm

mắc mưa

ướt nhẹp

nằm bẹp

trên sàn nhà

cảm lạnh

sau cơn mưa

trời lại sáng?  

ai làm mưa khi trời đang nắng?

ai đôi co vì chuyện nắng mưa?

nhằm nhò gì

phải không?

 

4.

đầy cám dỗ cuối tuần

đừng coi thường chiếc xe đạp

dù cũ

vì bạn không bao giờ quên đạp xe

biết đâu là cạm bẫy

cẩn thận khi xe xuống dốc

tôi đã thấy

nhưng nào hay  ̶ ̶ ̶ 

những tháng ngày nông nổi.

 

5.

hôm nay tôi dành cho tôi một ngày tịch lặng  ̶ ̶ ̶ 

ngày suy ngẫm

nhưng sao tôi nghe tiếng hót líu lo

chừng như tiếng loài chim sâu đầu đỏ

mải mê bàn tán chuyện bao đồng.

 

– Quảng Tánh Trần Cầm

 

***

 

THY AN


hoathuytien 

Mùa xuân đâu đó

 

nghiêng vai chiều tắt nắng

gánh một chút tàn phai

lưng đời nghe nặng nhẹ

cơn mưa vội nắng dài

sớm mai ra vườn cỏ

cây lá nhú mầm xanh

nghe mùa xuân đâu đó

bên hiên nhỏ dỗ dành

 

hương tình êm tóc vén

bàn tay thoáng xanh xao

hát vui lời tha thiết

âm thanh vẫn ngọt ngào

em đi qua đồi gió

thanh tân buổi tâm giao

cùng đất trời lồng lộng

nghe như một thuở nào

 

bình yên miền châu thổ

day dứt nắm phù sa

ta trở về rơm rạ

trái tim hiền thiết tha

áo mỏng chiều trôi lạc

bài ca ruộng lúa xa

con sông đời chung thủy

thơ nhỏ xuống sang mùa…

 

– thy an

(Đầu xuân 2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.