Hôm nay,  

Trôi

13/08/202308:21:00(Xem: 5502)

Chiều

Tôi trôi tuổi ấu thơ, từ quê hương cùng khổ, rau dưa khoai sắn.


Tôi trôi từ chợ quán rường, cái đình làng, ngôi trường tiểu học, áo lấm lem màu mực tím mẹ mới mua, cùng cây viết lá tre, trang giấy tự túc, vàng khè, không trông rõ chữ.


Tôi trôi từ khu đồng cát, xanh màu lúa non, con đường tỉnh lộ gập ghềnh, có hai cây cầu gãy nhịp, đi qua lắc lẻo, chiếc xe đạp kẽo cà kẽo kẹt, mang tôi hai buổi tới trường.


Tôi trôi từ thị xã tam kỳ, đầy tiếng đạn bom gầm rú, chiến tranh, đêm tối mịt mùng, xe nhà binh ồn ào, dân chúng tản mát, trốn đạn bom, như trốn bịnh dịch lan tràn.


Tôi trôi đến sài gòn hoa lệ, với bao mộng ước, trở thành ông nọ ông kia, cho những cơn mộng tưởng ngất trời tuổi trẻ, nhưng đạn bom, chiến tranh, đã xô tôi vào cuộc chiến bắn giết người vô tội vạ, tôi lăn quay như con vụ ngã nháo nhào.


Tôi trôi vào trại tập trung, làm người tù bị cưỡng bức, bị tước đoạt hết quyền sống, quyền con người, làm thân trâu, bò, ngựa thồ, không công, trên các công nông trường lao động, xã hội chủ nghĩa việt nam.


Tôi trôi, bò lê bò càng, mệt nhoài, thân phận con bò kéo xe lên dốc, trên những con đường thành hồ đầy rác rưởi, đầy ổ gà, quay mòng mòng giãy đành đạch, như con gà bị cắt tiết.

Rồi tôi trôi qua đây, xứ này, usa, lạ lẫm, với những con đường, bolsa, westminster, brookhurst, euclicd, harbor, lincoln, mịt mù, trong tôi nỗi xa, lạ hoắc, lạ huơ.


Xa lạ quá! lạ lẫm quá! nhiều khi tôi giật mình đánh thót, sao tôi ở đây? sao tôi đến nơi này? quê tôi đâu? tôi lớn lên từ đồng quê, từ gốc rạ, từ củ khoai, củ sắn, sao tôi lại ăn hamburger, uống coca cola, nói ra là yes, là no, là hello, là ok, hở?


Tôi giật mình nhiều khi như nằm mê giữa buổi chiều mùa đông lạnh giá anaheim.

Em ở đâu? sao không trôi cùng tôi qua bao mùa biển dâu, em lý tín, em tam kỳ, em sài gòn, em quảng ngãi, em nha trang...


Hở (những) em yêu dấu, một thời, một đời, nhau.


*


Núi tạ sông người


Đê đầu lạy ta cố hương

Ta quay lại những đêm trường quê xưa

Chập chờn trong giấc ngủ trưa

Quán Rường ơi! Ta cùng mưa ướt nhèm

Đây gò ông Đốc cùng em

Cởi trâu tắm suối - suối Sầu Đế ơi

Sao ta gan ruột bời bời

Nhìn mây tám hương lòng phơi ráng chiều

Nhớ xưa chân bước liêu xiêu

Nghe câu hát mẹ trong chiều ca dao

Rước em về tắm sông đào

Lòng neo cố xứ lòng chao chát buồn

Đê đầu lạy ta cố hương

Cho ta ngắm lại áo hường của em!

 

– Trần Yên Hòa

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thầy ngồi trên kia, sau cái bàn rộng, chỉ có một quyển sách mỏng trước mặt và không thấy ông mở ra. Như thói quen, ông không viết bài, viết dàn bài trên bảng, phấn với bảng ít khi ông dùng tới, có thể tất cả đã được sắp xếp chuẩn bị chu đáo và có lớp lang trong đầu ông. Đúng vậy, ông vẫn từ tốn nói theo những ý nghĩ dường như vẫn có sẵn trong tâm trí. Ông nói không vấp váp, từ từ, lôi cuốn và thuyết phục. Ông có một « schéma » trình tự đi tới, đi tới không hề áp đảo...
Sau 1975 những người còn ở lại miền Nam Việt Nam không biết những ai đã nghĩ ra và những ai đã là người đầu tiên ra khơi vượt biển đi tìm tự do, để cho dòng người đi sau tiếp nối không bao giờ ngừng nghỉ nếu các trại tị nạn không đóng cửa chấm dứt chương trình cưu mang những người vượt biển. Ai cũng mơ ước, cũng tính đường đi tìm tự do tùy theo hoàn cảnh khả năng tài chính của mình. Bao nhiêu người đã may mắn đến bến bờ và cũng bao nhiêu người bất hạnh bỏ xác ngoài biển khơi!
Ở xóm tôi, từ đầu xóm đến cuối xóm, hầu như nhà nào cũng có người đi vượt biên. Nhưng không phải ai cũng may mắn đến bờ tự do, bởi nếu đếm số người “đi không về và cũng không bao giờ đến” ở xóm cũng cỡ hai chục mạng người, trong đó có cô bạn rất thân yêu của tôi và một gia đình mất một lúc sáu người, đó là gia đình Bà Già Gân...
Tôi nhớ dạo còn nhỏ, ba tôi thường hay kể về chuyện “chạy giặc” cho anh em tôi nghe. Đại khái là vào những năm 1944-1945 ở Đà Lạt cũng rơi vào tình trang chiến tranh như mọi nơi khi sự hiện diện của hai quân đội Pháp lẫn Nhật trên mảnh đất Hoàng Triều Cương Thổ của nhà Nguyễn...
Thơ về Tháng Tư của hai thi sĩ Nguyễn Hàn Chung & Trần Yên Hòa.
Tôi không phải cậu trai học giỏi nên mãi đến năm mười ba tuổi tôi mới thi đậu vào trường Bưởi. Tôi thi đậu nhờ bố tôi chạy chọt nhờ vả người quen, chứ sức tôi thì tôi biết mình chẳng bao giờ được vào học cái trường trung học danh tiếng ấy...
Án Tử (Án Anh) là Tướng quốc của nước Tề thời Đông Châu. Ông người thấp nhỏ nhưng trí óc cực kỳ thông minh, đầy mưu lược. Người đánh xe cho ông lại là một người cao lớn, dềnh dàng. Anh này rất hãnh diện vì được làm công việc đánh xe cho vị Tướng quốc tài giỏi này. Thường ngày anh ta hay cầm ngọn roi ngựa trên tay, đi đâu cũng hò hét nạt nộ om sòm...
Chiều nay, Vinh ăn cơm sớm để đi họp tổ dân phố. Đường từ nhà đến trường tiểu học, nơi được chọn làm địa điểm hội họp, phải đi qua chợ Tròn. Quận lỵ nhỏ bé này có hai cái chợ không có tên, để phân biệt người ta gọi là chợ cũ và chợ mới, hay theo hình dạng là chợ dài và chợ tròn. Hai cái tên sau được ưa chuộng hơn nên lâu ngày thành tên chính thức. Chợ Tròn, là một phần của cư xá nhân viên nhà máy, được xây cất hình tròn với mái che vành khăn bằng bê tông rất đẹp, có bán gần đầy đủ các thứ cho nhu cầu ăn uống và tiêu dùng hàng ngày. Chợ tuy nhỏ nhưng nằm ở vị trí thuận tiện, chung quanh là đất trống rộng rãi, phố xá khang trang nên sinh hoạt có phần thịnh hơn chợ dài nằm trên liên tỉnh lộ, cách đó chỉ hơn một cây số.
Ngày 30 tháng 4 lại đến gần, chúng ta lại được đọc những câu chuyện kể hay được viết lại về những chuyến vượt biển hiểm nguy đi tìm cái sống trong cái chết. Những hình ảnh đau thương lại tràn về trong tâm khảm của những thuyền nhân như chúng ta. Riêng tôi, ngoài những lo sợ, những kinh hoàng bị bắn, bị rượt đuổi, tôi xin viết lại một câu chuyện buồn mà vẫn phải… cười, gọi nôm na là chuyện buồn cười...
Thơ tháng Tư của hai thi sĩ: Trần Hoàng Vy & Lê Minh Hiền
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.