Hôm nay,  

Từ Thơ Đến Họa: Bùi Chát “Đang Trôi”

14/07/202519:10:00(Xem: 3011)

LTS: Độc giả Việt Báo hẳn đã quen với Bùi Chát – nhà thơ – qua nhiều thi phẩm độc đáo từng đăng trên Việt Báo suốt bao năm qua. Tuần rồi, trang thơ VB cũng vừa giới thiệu tập thơ mới Chúng Ta Đang Trôi Đi Đâu với bài viết của Nguyễn Đức Tùng.

Hôm nay, mời bạn đọc gặp lại một Bùi Chát mới - Bùi Chát-người họa sĩ. Anh đang có cuộc triển lãm tranh mang tên “đang trôi” khai mạc từ hôm nay và kéo dài đến hết ngày 24 tháng 7, tại Sài Gòn – một dịp hiếm quý dành cho các độc giả Việt Báo hiện đang có mặt tại Tân Định, Sài Gòn.



***


Untitled design (3)

Đang trôi

Triển lãm riêng của Bùi chát tại Sài Gòn

Từ 14/7 đến 24/7/2025 (khai mạc lúc 18h ngày 14/7/2025)

Tại 22 gallery, 22 Phạm Cự Lượng, P. Tân Sơn Hoà, (Địa chỉ cũ: 22 Phạm Cự Lượng, P. 2, Q. Tân Bình.

 

“Đang trôi” – Một cuộc lênh đênh đầy tự ngẫm của Bùi Chát “Chúng ta đang trôi đi đâu?!” (tên tập thơ Anh vừa ra mắt cách đây không lâu), câu hỏi khẽ vang lên từ một tập thơ, giờ đã hóa thành nhịp sóng lan rộng ra bề mặt tranh. Từ chữ sang hình, từ âm vang sang sắc độ – Bùi Chát tiếp tục cuộc độc thoại nghệ thuật của mình trong triển lãm cá nhân mới nhất mang tên “Đang trôi”. Nếu quen thuộc với thơ Bùi Chát – thứ thơ cộc cằn mà mơ hồ, nổi loạn mà điềm tĩnh – bạn sẽ không bất ngờ khi những bức tranh của anh cũng mang tinh thần tương tự: không chiều chuộng thị giác, không phục tùng bố cục, không tìm kiếm sự “đẹp” theo tiêu chuẩn thông thường. Nhưng trong sự bất cần ấy là một hệ ngôn ngữ rất riêng – vụn vỡ, mấp mô, trôi nổi mà đầy chủ ý…

 

“Đang trôi” không chỉ là tên gọi – nó là một trạng thái hiện sinh, một lựa chọn sống. Là khi cá nhân không còn tin vào các hệ thống cố định, các bờ bãi tư tưởng rõ ràng. Là khi nghệ sĩ, như người chèo thuyền, để mặc dòng chảy đẩy mình đi, không cần đến điểm đến. Trong sự trôi ấy, Bùi Chát gom nhặt lại những mảnh tưởng, câu thơ, nét chạm – và biến chúng thành tranh. Không phân chia thể loại, không định danh chủ đề, tranh của Chát hiện lên như những tấm bản đồ cảm xúc, nơi sắc màu được bôi đẩy như dòng suy nghĩ, nơi đường nét là hồi âm của tâm trạng. Có lúc thô ráp, có lúc dịu dàng, có lúc như đang hét, có lúc như chỉ thì thầm một hơi thở. Trong số hàng trăm câu thơ trong tập “Chúng ta đang trôi đi đâu?!”, câu 162 lặng lẽ vang lên như một nốt trầm đáng ngẫm: “Nếu bạn chỉ biết vẽ, bạn chỉ là người biết vẽ, cùng lắm là một thợ vẽ. Nhưng nếu bạn biết xem tranh, bạn có thể làm tốt bất cứ điều gì liên quan đến hội họa.” Một câu thơ – mà cũng là một lời cảnh tỉnh.



11 - Thơ... là mây trắng...
Bức 11 - Thơ Là Mây Trắng 

 

Trong thế giới của nghệ thuật, kỹ năng là điều cần, nhưng không phải là tất cả. “Biết vẽ” là một hành động. Còn “biết xem tranh” là một trạng thái nhận thức – đòi hỏi sự đồng cảm, sự hiểu ngầm, và cả khả năng nhìn thấy điều chưa từng được gọi tên. “Thợ vẽ” có thể khéo tay. Nhưng người nghệ sĩ biết nhìn, biết lắng nghe tranh, có thể kiến tạo nên cả một thế giới. Và có lẽ, cũng vì thế, tranh của Chát không mời gọi ta ngưỡng mộ, mà mời gọi ta thấy – và rồi nghĩ, cười, trôi, và lặng, trong thời đại mà mọi thứ đều bị giật mạnh về phía xác tín và định nghĩa, “Đang trôi” như một lời nhắc dịu dàng rằng đôi khi, chính trong sự không rõ ràng, chúng ta mới tìm thấy mình…

 

Vẫn theo đuổi lối vẽ trừu tượng đậm chất thơ ca và tượng trưng, loạt tranh lần này của Bùi Chát dường như “có vẻ mặn mòi” hơn – một cách nói vừa tếu táo vừa nghiêm túc. Mặn ở sắc độ. Mặn ở tâm trạng. Và cả cái mặn của đời sống đã ngấm lâu vào từng lớp màu, từng vệt quét. Nếu những bức tranh trước đây của Chát có xu hướng bay bổng, phiêu linh và đôi khi như tan loãng giữa chữ và hình, thì loạt tranh “Đang trôi” cho thấy một chuyển động khác: đậm đà hơn, rõ ràng hơn, có lực đẩy và lực kéo màu sắc quyết liệt hơn… Độ tương phản màu cao hơn, những cú “đẩy màu” táo bạo hơn, và đặc biệt là biên độ tần sắc – tức dải chuyển động cảm xúc của từng gam màu – cũng trở nên rộng và sâu hơn. Không chỉ là sự trưởng thành về mặt thị giác, điều này còn gợi đến một thứ “ngôn ngữ mới” trong hành trình trừu tượng của Chát: không còn “trôi” một cách vô định, mà là trôi có trọng lực, trôi với ký ức, với chất liệu đời sống đã chín muồi hơn trong chiêm nghiệm…

06 - Cổ tích
Bức 06 - Cổ tích

 

Phạm Trọng Văn 

Saigon ngày 6/7/2025


*** 


Đang trôi

Triển lãm riêng của Bùi chát

Từ 14/7 đến 24/7/2025 (khai mạc lúc 18h ngày 14/7/2025)

Tại 22 gallery

22 Phạm Cự Lượng, P. Tân Sơn Hoà, Tp. HCM (Địa chỉ cũ: 22 Phạm Cự Lượng, P. 2, Q. Tân Bình, Tp. HCM.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.