Hôm nay,  

Mười Năm (2016 – 2026)

07/01/202606:00:00(Xem: 89)

bìa sách

 

Mười năm. Thời gian trôi qua nhanh như một chớp mắt. Mới đó, có ai ngờ. Bao nhiêu biển dâu và nước chảy qua cầu!

 

Hôm đến Virginia đưa tang họa sĩ Đinh Cường vào đầu năm 2016, buổi tối thứ Ba ngày 12/1, ở nhà anh chị Phạm Cao Hoàng, tôi đã được gặp các bạn của anh. Các anh Nguyễn Trọng Khôi, Chân Phương, Lữ Quỳnh, Nguyễn Đình Thuần, Trần Hoài Thư, Đỗ Thanh Tùng... Và các chị Duyên, Hoàng Bạch Mai, Nguyễn Thị Thanh Bình...

 

Tôi vẫn nhớ hôm đó anh Chân Phương dùng máy tính của PCH viết điếu văn sáng mai đọc trong tang lễ. Anh Nguyễn Trọng Khôi ôm guitar đàn hát “Giấc mộng trên đồi thơm”, có lúc đệm đàn cho chị Hoàng Bạch Mai hát. Anh Trần Hoài Thư vì mắt kém không thể lái xe đi xa một mình, may có anh Lại Gia Định là phu quân của nhà văn Nguyễn Thị Hải Hà nhận chở giúp. Cũng đã 3 năm từ ngày chị Yến ngã bệnh, anh Trần Hoài Thư mới có dịp trở lại Virginia gặp bạn bè. Tối đó, anh vui, nổi hứng đọc thơ và cả hát “Sơn nữ ca”.

 

Giờ đây, điểm lại những gương mặt ngày ấy, nhà thơ Chân Phương đã giã biệt cõi trần chiều thứ Tư ngày 6/5/2020, nhà văn Trần Hoài Thư đi xa sáng sớm thứ Hai 27/5/2024 và nghệ sĩ Hoàng Bạch Mai, vào thứ tư 26/3/2025. Đó chỉ là nhắc đến những thân hữu tham dự lễ tang. Nếu kể thêm những người bạn của anh không đến dự được, còn có thi sĩ Du Tử Lê ra đi ngày 7/10/2019, họa sĩ Thanh Trí 29/1/2023, nhà văn Nguyễn Đình Toàn 28/11/2023, họa sĩ Khánh Trường 29/12/2024, họa sĩ Nguyễn Đồng 18/3/2025, và gần đây nhất là nhà văn Doãn Quốc Sỹ ngày 14/10/2025...

 

Không dưng lúc này trong trí tôi cứ nghĩ miên man đến Serenade của Franz Schubert được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt qua tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh cao vút mà thật da diết: Dù một ngày đời sẽ vỡ tan rồi / Người về khuất chân trời / Nhớ nuôi cho hương một chiều / Vương vấn đời... Vâng, đời đã vỡ và người đã khuất. Chỉ còn thương tiếc những bóng tài hoa...

 

Cuối tháng 10 vừa qua, Đinh Trường Giang, người con đầu của anh Đinh Cường, cho hay đang layout cuốn “Đi Vào Cõi Tạo Hình II”, để rồi sẽ in một ít giữ làm kỷ niệm. Trong Lời thưa đầu sách, Giang tỏ bày:

 

     Đây là những đoạn ghi của ba chúng tôi (như các đoạn ghi gọi là thơ) về cõi tạo hình, đã đăng trên các tạp chí, các trang
     mạng, không phải là sách chuyên môn có phân tích và nhận định mà chỉ thuần tình cảm chủ quan của tác giả với các họa
     sĩ đã từng gặp và tiếp xúc.

     Tập II này viết về những họa sĩ cùng thời của ông từ 1957 đến 1966 thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam và vài bạn bè họa
     sĩ trẻ. Đáng tiếc là còn vài người ông chưa kịp viết bài trước khi qua đời, nên có thể xem đây là một công trình dang dở.

      Tuy nhiên chúng tôi vẫn muốn tập hợp các bài đã viết lại để in thành sách lưu giữ như một kỷ niệm.

      Xin được rộng lòng tha thứ cho những thiếu sót.

 

Đọc lại những dòng chữ cách nay đã mười năm, cảm xúc vẫn nguyên vẹn với cõi họa, cõi thơ của một Đinh Cường thơ mộng. Xem những tựa bài, tựa hồ một đoạn ghi của anh ngày cũ:

  1. Lê Thành Nhơn trở về với đất
  2. Để đi đến xám trắng và đen Nguyễn Trung đã là...
  3. Đỗ Quang Em, người đặt để ánh sáng một cách quyền uy
  4. Triển lãm tranh Nguyên Khai tại Virginia
  5. Đi San Antonio thăm Nguyễn Phước
  6. Trịnh Cung, cuối cùng cho một tình yêu
  7. Chân dung Mai Chửng, vừa hẹn tôi, mùa hè tới...
  8. Lê Tài Điển nghệ sĩ tạo hình nhiều trải nghiệm
  9. Gặp lại Hoàng Ngọc Biên ở San Jose
  10. Nguyễn Trọng Khôi và những viên đá cuội
  11. Rừng
  12. Để nhớ Âu Như Thuy người họa sĩ nằm chết trên đèo Cả
  13. Những giờ phút cuối của Chóe ở Virginia
  14. Thanh Trí, người bạn cùng thời hay tiếng sóng vỡ dưới trăng...
  15. Bấm blog PCH đọc được bài thơ làm nhớ Tôn Thất Văn
  16. Tôn Nữ Kim Phượng – Người họa sĩ xa lạ ấy hay một cây bông phượng vàng xưa quý, hiếm của Huế
  17. Bửu Chỉ từ những ngón tay lấm màu
  18. Hoàng Đăng Nhuận vẫn màu son tươi ấy
  19. Để nhớ Dương Đình Sang, một họa sĩ tài hoa của Huế
  20. Nhìn Nguyễn Đình Thuần đứng trước tiệm Gift & Cigarettes ở California nhớ Paris
  21. Khánh Trường, sức mạnh của im lặng
  22. Đã đến lúc người thi sĩ ấy phải vẽ
  23. Văn Cao
  24. Bùi Giáng, đi về với gió du côn
  25. Trịnh Công Sơn, uống chung ly rượu này

 

Bước vào phần nội dung, đó đây ta bắt gặp, “... tiếng vang của tranh trừu tượng Nguyễn Trung thật nồng nàn, như tiếng chuông được lan xa từ một chuông đồng quý - như chiếc chuông đồng chùa Thiên Mụ... Thật vậy, từ những dessins tài hoa đến những tranh thiếu nữ một thời là thứ ánh sáng như âm bản, anh có quyền buông thả hết để hôm nay chỉ vẽ như không vẽ mà thấy vẫn là những tác phẩm nghệ thuật đạt mức thượng thừa.” Hay ở một chương khác, khi viết về họa sĩ Đỗ Quang Em, “Vẫn nồng ấm một màu nâu được chuốt thật mịn mặt phẳng tranh, vẫn ánh sáng rất quý từ khuôn mặt, nếp áo, đồ vật, nhưng trên hết là bố cục, một bố cục mới và bạo, cho thấy tinh thần bức tranh hoàn toàn hiện đại so với không khí tranh cổ điển của sáng và tối, cũng một màu nâu, đỏ đậm đặc tuyệt vời thời Baroque với Rembrandt, Vermeer… hay Ludovico Carracci...” Hay chương nói về Nguyên Khai, “Những thiếu nữ trong tranh anh mang hình dáng quý phái, đặc biệt có những chân dung hai mặt rất Nguyên Khai. ‘Tranh Nguyên Khai là thơ được dựng lại bằng màu sắc trên nền vải’, đúng như Huỳnh Hữu Ủy nhận xét.” Hoặc nhắc đến, “Thế giới nghệ thuật của Lê Tài Điển nghiêng nhiều về đời sống tâm linh, thời gian sau này còn tìm về lộ trình Phương Đông như một bình thản cho tâm hồn… Anh như một tấm gương lớn phản chiếu toàn thân, một hiện hữu mang cả khổ đau và hạnh phúc.” Với Nguyễn Trọng Khôi thì, “Những viên cuội, những quyển sách cũ, ly thủy tinh, những lọ gốm Lý Trần… từ vật vô tri đã được Nguyễn Trọng Khôi phà lên hơi ấm nồng nàn cũng như Cézanne (họa sĩ Pháp 1839-1906) đã làm cho những quả táo, những tách trà trở nên bất tử trong tranh tĩnh vật như ông đã nhìn thấy chúng từ bên trong.” Rồi thì, “Thanh Trí vẽ mà ‘tưởng chừng đang hái giấc mơ’… Giấc mơ của một đời người... Khởi đi từ hạnh phúc đến đau đớn, gào thét và im lặng. Đó là hai tứ thơ ở hai cực trong tranh Thanh Trí. Chị không dựng nên một thế giới hoang tưởng mà đã đắm chìm trong giấc mơ, để diễn tả thành đường nét, màu sắc quyết liệt của riêng mình... Viết về bạn, xem tranh bạn, tôi như còn nghe âm vang tiếng sóng vỡ dưới trăng.” Hoặc nhớ về “Tôn Nữ Kim Phượng đã tham dự 15 bức sơn dầu với những nét vẽ phóng khoáng, táo bạo như một Jackson Pollock của trường phái Biểu hiện Trừu tượng (Abstract Expressionism) hay một Vieira da Silva với những đường nét kỷ hà tuyệt diệu.” Ở chương Bửu Chỉ, người bạn thân thương, “Chỉ đã tạo được cho mình một ngôn ngữ nghệ thuật, hay nói như Picasso: ‘Nghệ thuật là ngôn ngữ của các tín hiệu’... Không gian tranh Bửu Chỉ thường là khoảng không xám sậm và đôi vầng nhật nguyệt. Nhân vật là hình người gầy trơ xương, một thứ tượng đồng của Alberto Giacometti, mang tính bi thảm, như chực rơi xuống vực thẳm. Mà vực thẳm trong tranh Bửu Chỉ cũng chính là hy vọng hạnh phúc. Bởi những lóe sáng bất ngờ ở cạnh dưới cùng bức tranh giữa cái không gian mù tăm đó. Và chính bởi hành trình của nghệ thuật mà Bửu Chỉ đã già giặn, chín muồi...” Còn Khánh Trường, “Như Nietzsche với hình ảnh Zarathustra đã gợi lên lộ trình sâu rộng của một bậc Đại Bồ Tát giữa lòng đen tối của thế gian. Khánh Trường là hình ảnh của Zarathustra: ‘Trong tất cả những tác phẩm, ta chỉ yêu những tác phẩm nào được tác giả viết bằng máu của chính mình. Ngươi hãy viết bằng máu rồi ngươi sẽ biết được rằng máu chính là tinh thần.’ Zarathustra đã nói như thế, Khánh Trường đã vẽ như thế.” Hay khi nói về tranh Du Tử Lê, “Sức mạnh huyền bí của màu xanh lá cây trong tranh Du Tử Lê đã cuốn hút tôi từ những bức đầu tiên, màu xanh ấy không thấy được trong thơ ông, mà chỉ nghe vang trong đêm xanh đen: những con sói cô đơn hú giữa đồi; trăng lạnh... Và người thi sĩ ấy đã vẽ đã để lại trong tôi màu xanh lá cây, màu nguyên thủy mang một tính ‘primitive’ độc đáo như màu xanh huyền bí trong bức Kẻ dụ rắn - Le charmeur de serpent - của Henri Rousseau.” Hoặc với tranh Văn Cao, “Những minh họa của anh phóng khoáng, những mảng đen dẹt, khỏe, ngựa và thiếu nữ của anh có nét riêng, dễ nhận, rất trẻ trung, phảng phất chất sang trọng, quý phái. Minh họa của anh như thơ ngắn của anh...  Anh thích những đường kỷ hà, như Kandinsky. Anh vẽ nhanh và nét bút vung mạnh, rất thần, rất thiền.” Đặc biệt về người bạn nhạc sĩ rất thân thiết Trịnh Công Sơn, “vẽ nhiều tranh, với những hưng phấn đột xuất kỳ lạ, càng về khuya khi rượu đã thấm, còn lại một hai người bạn thiết, Sơn vẽ… Nhiều nhất có lẽ là những tĩnh vật có ly rượu...” và “những phác thảo chân dung bạn bè. Trịnh Công Sơn nắm bắt và lột tả khi vẽ chân dung rất tài... Qua nét vẽ của Sơn khi đã thấm rượu trong buổi hàn huyên, chỉ cần phác vài nét chính, giặm thêm màu đậm nhạt, hoen nhòa đã tỏ lộ ra cái thần sắc của người đối diện mà đôi khi vẽ kỹ chưa chắc đã có hồn như vậy. Sơn còn vẽ rất nhiều chân dung những nhan sắc, là hương hoa của mùa màng tình yêu hay bất chợt thấy dáng ai kia với màu son môi như một đốm lửa hồng (đôi môi em là đốm lửa hồng - TCS)… Không gian tranh của Sơn bao giờ cũng dở dang, nhưng lại đầy tinh khiết, sáng tạo.” ...

 

Trên đây chỉ là những trích đoạn rất ngắn mà tác giả đã viết về một số họa sĩ. Cuối sách là phần phụ lục với ba bài viết:

  1. Ngô Thế Vinh viết về người bạn tấm cám Nghiêu Đề
  2. Đỗ Long Vân viết cho lần triển lãm tranh Đinh Cường 1965 – Bửu Ý dịch Việt ngữ
  3. Trịnh Công Sơn viết cho lần triển lãm tranh Đinh Cường tại Đại học Duyên Hải 1974

 

Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp. Cảm ơn Giang đã hết sức cố gắng, trong điều kiện và thời gian hạn hẹp, để hoàn thành ý nguyện cuối đời của Ba. Trong tương lai, nếu bộ sách này được một nhà xuất bản nào đó bên Việt Nam in ấn, phát hành để có thể đến với nhiều độc giả hơn thì niềm vui càng tăng thêm gấp bội. Vì đó cũng chính là mong ước của họa sĩ Đinh Cường lúc sinh thời.

 

Trần Thị Nguyệt Mai

15.11.2025

  

Ghi chú: Sách đã in xong vào cuối năm 2025,  lưu hành nội bộ. Gia đình chỉ in một ít giữ làm kỷ niệm chứ không bán.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.