Hôm nay,  

Chiêu Độc Tháng Mười

09/10/200400:00:00(Xem: 6043)
Người ta chưa thấy hai ứng viên tổng thống Mỹ tung chiêu bất ngờ trong tháng Mười thì hình như al Qaeda đã ra tay trước. Kết quả: Bush 1, Kerry 0.
Đúng một ngày trước khi hai ứng cử viên Bush và Kerry tái đấu trên diễn đàn tranh luận thì một loạt ba vụ nổ đã làm rung chuyển biên giới Israel với Egypt. “Độc chiêu tháng Mười” mà tác giả bài này đã viết hồi đầu tuần (Việt Báo, số Thứ Hai, mùng bốn) quả là đến hẹn lại lên, nhưng từ một nơi bất ngờ.
Xin hãy nói trước về diễn biến, sau đó là phần diễn giải.
Hai nước cừu thù ngày xưa là Egypt và Isreal nay đã có quan hệ tương đối bình thường - điều khá bất thường tại Trung Đông. Du khách Israel thường đổ qua nghỉ mát tại bán đảo Sinai, ven Hồng Hải trong vịnh Eilat của Egypt. Hôm mùng bảy, liên tiếp ba trung tâm du lịch Taba (cách biên giới Israel chưa đầy 400 thước), Nuweiba và Ras al-Shitan bị đánh bom khi hơn 15.000 khách Do Thái qua đó nghỉ mát nhân mùa lễ Sukkot. Thiệt hại: 35 người chết, hơn 160 bị thương, đa số là du khách Do Thái, và khách sạn Hilton tại Taba của Egypt bị tiêu hủy.
Chuyện đó có liên hệ đến Hoa Kỳ.
Ngay sau vụ nổ đầu tiên, tổ chức khủng bố Hamas của Palestine đã tự nhận công trạng, nhưng điều đó đáng ngờ. Sau đấy, tới lượt một tổ chức chưa ai biết là gì dưới danh xưng rất mới Jemaah Islamiyah đã nhận công. Nhóm này có thể chỉ là một diện khác của al Qaeda, cùng tên như nhóm Jamaah Islamiyah tại Indonesia (Nam Dương).
Về Hamas thì các nhóm võ trang Palestine khó có khả năng thực hiện việc đó, lại trên đất Egypt là quốc gia yểm trợ Palestine và đang làm môi giới dàn xếp giữa chính quyền Palestine, các nhóm khủng bố và chính quyền Israel. Vẫn biết rằng nhiều thủ lãnh al Qaeda là người Palestine (như Tư lệnh lực lượng võ trang Abu Zubaydah của al Qaeda bị bắt tại Pakistan năm 2002), nhưng tự thân, Hamas khó tiến hành nổi một việc có quy mô như vậy trên đất Ai Cập. Cùng lắm thì chỉ giữ vai trò chỉ điểm và yểm trợ.
Yểm trợ cho ai" Câu trả lời có thể là al Qaeda, với kỹ thuật đánh nhồi rất đặc thù.
Hãy phân tách chuyện này mà xem.
Dư luận Mỹ thường chú ý tới nhãn hiệu hơn là nội dung cho nên nói tới al Qaeda là nghĩ đến bin Laden nay vẫn chưa sa lưới và cho rằng Hoa Kỳ chưa làm nên chuyện.
Hôm mùng một tuần trước, al Qaeda đã tung ra băng ghi âm của lãnh tụ số hai sau Osama bin Laden, là Ayman al-Zawahiri. Cuốn băng kêu gọi thanh niên Hồi giáo chú ý vào cuộc xung đột giữa Palestine và Egypt và còn khẳng định rằng Thánh Chiến phải mở rộng tới các quốc gia ủng hộ Israel. Al-Zawahiri là người Egypt (Ai Cập). Loạt khủng bố vừa qua có thể là một minh chứng của al Qaeda, nối tiếp lời kêu gọi của al-Zawahiri.
Các lãnh tụ al Qaeda thực ra có thể đang thất thế và còn bị thế giới Hồi giáo than phiền là chỉ lo đánh Mỹ mà không thiết thực hỗ trợ các cuộc đấu tranh của Hồi giáo, thí dụ như của dân Palestine. Ngoài ra, al Qaeda cũng có nhu cầu đốt ngọn đèn sáng thể thu hút nhân sự Palestine cực đoan, như đặc công của Hamas hay Thánh Chiến Palestine (Palestinian Islamic Jihad - PIJ). Vì hai lý do ấy, giả thuyết al Qaeda ra tay tại Egypt không là mơ hồ.
Huống hồ là vai trò của người Egypt trong al Qaeda.

Về tư tưởng, tổ chức khủng bố này thành hình từ phong trào phát xít Hồi giáo hoạt động tại Egypt từ thời Nasser. Về lịch sử, các nhóm khủng bố cực đoan đã từng hành động tại Egypt, nổi tiếng nhất là vụ ám sát Tổng thống Anwar Sadate năm 1981, lần cuối là vụ tấn công Luxor năm 1997. Sau vụ Luxor, chính quyền của Tổng thống Hosni Mubarak thẳng tay càn quét, chủ mưu là nhóm Gama’ah al Ismamiyadh bị vỡ đôi. Phân nửa chuyển qua đấu tranh ôn hoà, phân nửa trở thành Mặt trận Thánh Chiến Hồi giáo của bin Laden. Lãnh tụ là Abu Yasser Rifai Ahmad Taha của nhóm này hiện ở đâu người ta chưa rõ. Có thể là từ Afghanistan nay đã trở về cùng nhiều tay đặc công khác.
Đã vậy, về nhân sự, dân Egypt cũng chiếm tỷ lệ cao trong hàng ngũ lãnh đạo al Qaeda.
Ngoài al-Zawahiri còn có Tư lệnh Võ trang Saif al-Adel là dân Egypt, cũng như kẻ trực tiếp chỉ đạo vụ khủng bố 9-11 tại Mỹ là Mohammed Atta. Một lãnh tụ khác gốc Egypt đã bị Mỹ hạ sát tại Afghanistan năm 2001 là Mohammed Atef (cũng có tên là Abu Hafs al-Masri). Các nhóm khủng bố đã ra tay gần đây, từ Tây Ban Nha qua Bắc Phi đến Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), đều xưng danh là “Lữ đoàn Abu Hafs al-Masri”, và là chi nhánh của al-Qaeda.
Cho nên, al Qaeda có điều kiện và cơ sở để chiêu mộ được nhiều phần tử Egypt cực đoan nhằm mở màn tấn công từ lãnh thổ Palestine qua Israel, Egypt và vào cả Hoa Kỳ, mà dư luận Hoa Kỳ mới chỉ biết gần đây thôi.
Kết cuộc gần và nhỏ là Isreal có lý: rằng Hamas, Thánh Chiến Palestine (PIJ) hay al Qaeda cũng là nhiều mặt của một phong trào khủng bố toàn cầu. Dân Mỹ gốc Do Thái có thể vì đó mà thiên về Tổng thống Bush nhiều hơn là truyền thông Mỹ dự đoán. Cạnh đó, chính quyền Egypt cũng thông cảm hơn với quan điểm chủ chiến của Bush và dè dặt hơn với việc yểm trợ Palestine khi đã bị khủng bố - có thể cả al Qaeda lẫn tay chân Hamas - tấn công vào một kỹ nghệ trọng yếu của nền kinh tế là du lịch. Người Mỹ gốc Ả Rập vì vậy chưa chắc đã ngả theo John Kerry như người ta dự đoán. Ở một nơi xa xôi là Úc Đại Lợi, vụ khủng bố tại Egypt gợi nhớ đến vụ Bali của Indonesia do Jamaah Islamiyah - cánh tay nối dài của al Qaeda tại Đông Nam Á - gây ra ngày 12 tháng 10 năm 2002, gần đúng hai năm trước, làm 202 người thiệt mạng, đa số là du khách Úc. Biến cố tại Egypt có lợi cho lập trường cứng rắn và thân Mỹ của Thủ tướng John Howard trong cuộc bầu cử ngày Thứ Bảy mùng chín (cùng ngày với cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên trong lịch sử Afghanistan).
Kết cuộc riêng tại Hoa Kỳ là sự củng cố lý luận của Bush-Cheney: trận chiến chống khủng bố Hồi giáo có tính toàn cầu và đa diện, không chỉ thu hẹp vào chuyện Iraq có võ khí tàn sát hay không.... Vài ngày nữa, khi tin tức về khủng bố tại Egypt đã ngấm trong dư luận, dân Mỹ sẽ thấy lập trường của Bush không đến nỗi phiêu lưu hay gian trá.
Ngược lại, hình như John Kerry vẫn chưa đánh giá được cho đúng nguy cơ khủng bố nên vẫn tập trung vào vụ Iraq với sự phụ họa của truyền thông (đây lại là chuyện khác: bản phúc trình về Iraq của thanh tra Charles Duelfer bị đơn giản hoá thành chuyện Saddam Hussein không có khả năng chế tạo võ khí tàn sát; muốn biết rõ hơn, có thể tham khảo phúc trình trên website http://www.cia.gov/cia/reports/iraq_wmd_2004/index.htm.
Như vậy, nếu đúng thì chiêu độc tháng 10 của al Qaeda lại gây phản tác dụng: giúp cho Bush thắng lý, nếu chưa thắng cử. Ông thắng lý muộn màng sau cuộc tranh luận bết bát tuần trước về an ninh!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.