Hôm nay,  

Giác Hoa

01/12/200400:00:00(Xem: 6900)
(Truyện ngắn)
"...Cho tôi lại còn nhiều cho tôi lại tình yêu
Tôi không đòi khôn khéo, tôi không đòi bao nhiêu
Cho tôi lòng non yếu dễ khóc dễ tin theo
Cho tôi thời niên thiếu cho tôi lại ngày đầu

Cho đi lại từ đầu chưa đi vội về sau
Xin đi từ thơ ấu đi vui và bên nhau
Trong tim thì sôi máu khóe mắt có trăng sao
Bông hoa cài trên áo, trên môi một nguyện cầu

Cho đi lại từ đầu chưa đi vội về sau
Cho đi lại từ đầu chưa đi vội về sau..."
(Kỷ Niệm: Phạm Duy)

Nàng rất đẹp. Nét đẹp có thể làm điên đảo lòng người. Những người đàn ông đứng đắn nhất cũng phải đưa mắt nhìn nàng, nghiêng mình trước nàng để ca ngợi kỳ công tạo hoá. Nàng có nụ cười của tuổi thơ, ánh mắt hồn nhiên, vô tư e ấp. Mái tóc dài ngang lưng, nuột nà, óng như tơ càng tôn thêm nét nữ tính ở nàng. Từ cử chỉ, vóc dáng nàng toát ra vẻ quý phái cao sang. Vâng, nàng là biểu hiện của một công nương diễm lệ. Một mẫu người phụ nữ được những người đàn ông thành công săn đuổi, để được cùng nàng xuất hiện ở những nơi công chúng. Nàng là niềm hãnh diện của các buổi tiếp tân, chiêu đãi sang trọng. Sự thông minh trong ngôn từ đối đáp của nàng khiến những người tiếp xúc với nàng luôn có ấn tượng sâu đậm, khó quên.
Đàn ông say mê sắc đẹp của nàng đã đành, đến phụ nữ lớn tuổi và nhỏ tuổi cũng không dấu được lòng yêu mến của họ. Người lớn có con trai, thì mong con mình có cơ hội lập gia đình với người con gái dịu dàng, dễ thương, thông minh, tế nhị như nàng. Người nhỏ thì ngưỡng mộ, cũng như thầm mơ ước có phần nào giống nàng, được trân quý và hoàn hảo như nàng.

Nàng tên HG. Một cái tên con gái bình thường, song khi nó đã lọt vào ký ức của người đàn ông nào, sẽ vấn vương rất lâu nơi đó. HG là niềm mơ, là chuỗi hy vọng, là hiện thân của cuồng nhiệt, của tranh chấp và đau khổ. Vâng, HG đã khiến không biết bao con tim rỉ máu. Đau thương, cuồng hận và ảo não ê chề.

HG biết mình đẹp, quyến rũ, có thể chinh phục được bất cứ trái tim bản lãnh nào. Nàng chỉ cần ban bố cho người đàn ông một nụ cười với hàm răng trắng, đều như những hạt ngọc trai lấp lánh sau làn môi hồng đầy đặn, hơi vỉnh lên khiêu gợi. Cái miệng xinh xắn hơi rộng ấy lại thốt ra những lời dịu dàng, đoan trang, lịch sự lễ phép. Giọng nàng trong suốt, tiếng cười nhẹ dịu mơn man trấn an những cơn bất bình của bất cứ người đàn ông nào. Ngoài ra HG lại trang điểm rất khéo, khiếu thẩm mĩ về trang phục của nàng lại càng làm nổi bật lên giữa đám đông.

Đàn ông theo nàng như nước, ngã quỵ dưới chân nàng như lá rụng mùa Thu. Nàng chỉ đùa cợt với họ một thời gian rồi giã từ. Có những người cơ hồ không chịu nổi, họ bị rơi trạng thái trầm cảm, lẩn thẩn, mơ hồ lãng đãng như kẻ mộng du. Có những người đau, con tim vỡ nát, nhưng không thể trách hận nàng được. Tại vì HG đến bên họ, đùa chơi với họ, không đòi hỏi bất cứ điều gì, lúc nào cũng dịu dàng, lịch sự... Nhưng đến khi họ say mê nàng không còn gì cưỡng lại nổi nữa, thì HG rời bỏ họ.

Ba mẹ của HG không thể nào hiểu được tại sao con gái của họ lại xử sự như vậy. Nhìn nhiều chàng trai rất có tương lai, đang oằn mình đau khổ trước ngọn roi tình ái phũ phàng của HG, ông bà không cầm lòng được. Nhiều lần họ đã nói chuyện với HG, song nàng lẳng lặng chẳng trả lời. Vì tôn trọng quyết định riêng tư của con, nên ông bà không thể bắt ép HG hành xử theo khuôn phép họ nghĩ được. Đương nhiên, ông bà đau buồn và thường nhắn nhủ đến cô con gái của họ: Luật Nhân Quả!

Riêng HG, nàng có những ưu tư dằn vặt. Nàng vô cùng đau khổ khi thấy những người nàng đã từng có tình cảm, oằn lưng hứng chịu nỗi đau do nàng gây cho họ. Nàng đã tự khóc thầm trong những đêm khuya. Nàng cầu nguyện Trời Phật thương nàng, đừng bắt nàng tiếp tục làm ác nữa. Biết tội lỗi, ác nghiệp càng ngày càng xếp chồng, song nàng không thể quay đầu lại được. Mỗi khi thấy những "con mồi mới" rón rén đến bên nàng, nàng lại trở thành thợ săn điệu nghệ. Khi "con mồi" gục trong vũng máu bởi họng súng vô tình của nàng, nàng lại nghe lòng tan vỡ, khóc thầm. Nhưng nàng chỉ khóc khi có mình nàng, không bao giờ người ta thấy được những giọt nước mắt hối hận đau buồn của nàng. Vì nàng luôn xuất hiện với bề ngoài vô cùng bình tĩnh, tươi vui, hạnh phúc và quyến rũ. Có nhiều đêm, những cơn ác mộng trở về hành hạ HG, để sáng mai, nàng thấy cuộc sống thật nhiều cay đắng, đau thương. Cái ray rứt, cọ xát và hối hận đã nhiều lần gợi ý nàng đến bờ vực quyên sinh. Tự trong tiềm thức HG, có những hối thúc kêu gào ngừng ác nghiệp ngày một vang lên. Song HG giống như cỗ xe đứt thắng lao xuống vực. Nàng không thể ngừng lại. Nếu nàng ngừng lại, cỗ xe sẽ nghiến nát nàng. HG không biết phải làm sao" Nhưng nàng chỉ biết, nàng đang có hành động trả thù đời. Nàng hận đời" Quả thật vô lý. Nàng xuất thân từ gia đình gia giáo, giàu có, thuộc tầng lớp thượng lưu trong xã hội. Nàng đẹp, có bằng cấp và được trọng vọng. Nhưng tại sao, nàng lại hận đời""" Điều đó không ai biết. Người ta chỉ đoán là nàng bị biến thái tâm sinh, nên mới có những hành động đáng buồn như vậy. Chỉ riêng nàng, nàng biết được gốc gác của mối hận. Song tự nàng, nàng lại chạy trốn và cố quên đi. HG cố gắng phủ nhận sự thật. Cuộc sống bí ẩn vô vàn, nàng càng chạy trốn, tâm thức quá khứ lại càng bùng lên, như con quái vật bao phủ đời nàng, dầy xéo tâm tư nàng. Nàng lo sợ, đau khổ, bi lụy vì nàng chẳng còn là nàng. Nàng đã mất đi tất cả. Bây giờ nàng chỉ còn là cái xác đẹp xinh, là một cỗ máy "bắn tim" hữu hiệu. Tất cả những cơn ác mộng chỉ có một khởi đầu:

HG bị mất đi cái quý nhất của đời con gái khi nàng mới là cô bé 7 tuổi. Cái tuổi ngây thơ và hồn nhiên như thiên thần. Ba mẹ nàng vì công việc kinh doanh, nên không có thời gian chăm sóc con cái. Nàng thường ở nhà với mấy người bà con đến trọ học. Cái người lớn hơn nàng 10 tuổi ấy, có bề ngoài thật hiền lành, nhưng cái tâm của gã bị ác ma trấn áp. Gã là người có cùng huyết thống trực tiếp với con bé. Ai có thể ngờ" Vâng, không ai cả. Vì con bé đối với gã trọn một niềm quý mến. Nó thường hỏi gã các bài toán lớp 1, lớp 2. Nó cũng theo gã ra vườn làm rọ hái trái cây hoặc đi phố ăn kem. Cho đến một buổi chiều, cả nhà đều đi vắng. Gã con trai 17 đã kéo con bé lên 7 vào phòng và giở trò cầm thú. Con bé bị bịt miệng, không được kêu la... Nó đã chịu tất cả sự nhục nhằn đau đớn trên cơ thể ấu thơ. Xong việc, gã ác ma còn hù doạ sẽ giết nó, nếu nó dám hở miệng nói nửa lời cho bất cứ ai về chuyện vừa sảy ra. Từ đấy, gã thường xuyên làm trò tồi bại với con bé. Con bé vô cùng sợ hãi, khi nó còn ở lại nhà một mình với gã. Nó tìm cách lẩn trốn, song không bao giờ thoát khỏi bàn tay dâm ô của loài ác quỷ. Mỗi lần gã cưỡng gian nó, nó chỉ biết nhắm mắt, cầu mong cho sự việc chóng qua, nó khóc và cầu nguyện nhưng không ai giúp nó. Cho tới khi con bé 12 tuổi, sự nhục nhằn đau đớn không thể chịu được nữa. Nó hét lên: "Ông còn giở trò nữa thì ông giết tôi đi! Tôi sẽ đi tố cáo việc này với bố mẹ tôi." Gã sợ hãi và từ đó thưa dần những trò bỉ ổi. Thỉnh thoảng, nhìn trước nhìn sau không thấy có ai, gã vẫn giở trò sờ sẫm. Con bé trừng mắt hoặc la lên, lập tức gã bỏ đi nơi khác. Khoảng một năm sau, gã có bạn gái. Con bé bấy giờ mới thoát khỏi bàn tay dâm ác của gã. Dù vậy, càng lớn con bé càng biết là nó đã mất tất cả. Mất đi cái thứ quý giá ngàn vàng. Nó biết là cơ thể và linh hồn của nó ô uế quá, nó không còn xứng đáng với bất cứ người đàn ông trong sạch nào nữa. Nó cũng nghi ngờ rằng nó sẽ không thể lấy chồng. Nó hận gã bà con đã làm hại đời nó. Nhưng nó biết, nếu nó nói ra để bắt tội gã kia, cũng là phát súng bắn sập gia đình nhà nó. Nó không muốn bố mẹ nó khổ đau vì phải hối hận đã không có thời gian chăm sóc cho con, và cho ác ma ở chung trong nhà. Với lại kẻ đó là ruột thịt vô cùng thân thiết mà! Nó đâm ra hận đàn ông. Cũng may, ba con bé là người đàn ông rất gương mẫu, nó lại thần tượng ba nó. Nên nó vẫn chưa hoàn toàn khinh tởm giống đực.

Những đêm mất ngủ đến với HG thường xuyên hơn. Nàng đã khóc sưng mọng đôi mắt, nhưng sáng mai ra, khi phải ra ngoài tiếp xúc xã hội. Con mắt nhung huyền của nàng như phép lạ, lại trở về bản thể trong sáng như vì sao lạ.

HG năng lui tới Chùa. Nhưng vì mặc cảm tôi lỗi, nàng chỉ loanh quanh ở vườn chùa. Lời Kinh tiếng Kệ vang vọng từ Chánh Điện cũng mang lại cho nàng chút nào an lạc. Nhưng nàng không bao giờ dám bước vào Chánh Điện nghe giảng Pháp hoặc Lễ Lạy. Nàng sợ con người nàng sẽ làm ô uế Phật Đường. Nàng cũng sợ gặp các vị Chân Tu. Nghe nói những vị chân tu có con mắt vô cùng tinh tế, sẽ đọc được cái tâm hoang đàng bất tịnh của nàng.

Một buổi tối, tâm của HG lại bạo loạn. Nàng mới chia tay một chàng trai rất yêu nàng. Nàng cũng có tình cảm với anh ta. Song nàng không thể ở lại bên anh chàng nữa, bởi vì hiểu biết của anh chàng về nàng quá ít. Chàng chỉ biết chạy theo và quỵ lụy van xin chút tình yêu từ nàng. Sau mấy tháng chơi trò mèo vờn chuột, nàng quyết định ra đi.

Trên con đường về nhà, nàng ghé qua ngôi cổ tự. Nàng đã vào đây bao lần để lấy lại bình tĩnh, khi lòng nàng nổi sóng. Băng ghế gỗ đơn sơ nằm dưới gốc Bồ Đề lớn là nơi nàng thường ngồi để ngửi chút hương trầm thoảng thơm trong gió, nghe tiếng Kinh Mõ đều đều phát ra từ chánh điện. Từ đây nàng cũng có thể ngắm nhìn Tôn Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đang rưới tịnh thủy Cam Lồ xuống ao sen. Lòng nàng quy ngưỡng Phật Bà, khẽ niệm câu thần chú Um Mani Padne Hum. Nàng cầu Phật Bà hãy thương xót nàng, cho nàng một lối thoát, một tia sáng để lấy lại niềm tin và tìm về bến giác.

HG ngồi đó đã lâu lắm. Nàng ngắm nhìn Tôn Tượng Bồ Tát, dường như gương mặt của Phật Bà hôm nay sống động hơn bao giờ hết. Nàng nhận được mối linh cảm giữa đức Bồ Tát và nàng. Chợt có tiếng nói bên cạnh vang lên:
- Con có nhiều tâm sự quá phải không" Ta biết cả rồi.
HG giật mình, nàng hốt hoảng nhìn lại thì trên ghế băng bên cạnh nàng có một vị Ni già ngồi đó tự bao giờ. HG bối rối đứng lên, chắp tay vái chào. Nàng muốn đi về. Vị Ni già bèn bảo:
- Con ngồi xuống đây đi, ta muốn nói chuyện với con.
HG lưỡng lự một lát rồi ngồi xuống ghế. Nàng chợt cảm lãnh được sự an tịnh dâng lên trong lòng, cảm giác bình thản mơn man như gió đùa trên trên cánh đồng lúa mênh mông, HG tự động nhắm mắt để được tận hưởng hương vị ngọt ngào. Lâu lắm rồi, nàng không hề cảm giác bình yên như thế. Tâm thức nàng như mở rộng, trước mặt nàng những cảnh như phim thật, quay lại cảnh vật của nàng thời thơ ấu. Cái thời cô bé chưa hề biết đến cái khổ ở đời. Rồi mây đen vần vũ quay về, HG thấy những cảnh ô nhục xảy ra trong căn nhà xưa. Những tội lỗi của nàng đã làm cho bao nhiêu người đau khổ cũng như tấm gương phản chiếu trở về. HG hối hận quá, cuộc đời vay trả hiển hiện trước mắt. Vòng xoay tròn như miệng chén, khiến con kiến không biết đường ra. HG bối rối mịt mùng, nàng để cho đôi vai run lên thổn thức. Nước mắt nàng tuôn ra như suối, phần vì thương thân, phần vì hối hận, phần vì bế tắc. Cuộc đời nàng sẽ về đâu" Nàng chỉ thấy tương lai xám xịt, tràn đầy nghiệp chướng đang đợi nàng ở phía xa kia. Trong lúc đang đau khổ tột cùng. Tiếng vị Ni già chợt vang lên bên cạnh:
- Con có thể khóc đến ngày mai. Nghiệp chướng cũng chẳng giảm đi chút nào cả. Nếu không muốn bị nghiệp chướng, thì đừng gây nghiệp nữa. Đó là cách giải quyết con ạ!
HG nhạt nhoà nước mắt, uất nghẹn:
- Bạch Ni Sư, con có tội tình gì đâu mà bị đời dằn vặt từ thuở ấu thơ" Cướp đi của con tất cả cuộc đời"
Vị Ni già từ tốn:
- Con ơi, nhân quả trùng trùng. Trong tiền kiếp xa xưa con đã tạo ra những ác nghiệp tương tự. Con cũng đã phóng lửa đốt nhà, cướp giật, hãm hiếp, lường gạt tình yêu của kẻ khác. Nên kiếp này, phần nghiệp chướng nào đó đã thành quả dị thục, tức chín rục, bèn biểu hiện ra ngoài khiến con trả quả.
- Con có nhiều nghiệp chướng vậy, tại sao con lại có được đủ sắc đẹp, tiền tài"
- Ồ, chuyện ấy không có gì khó giải thích. Thứ nhất trong tiền kiếp, con có gây ác nghiệp, song con cũng làm được nhiều điều thiện. Con đã biết bố thí, cúng dường trai tăng, nên nay con được hưởng trí thông minh, tiền tài và sắc đẹp. Thứ hai, những thứ giả danh, giả huyễn đó chẳng giúp gì nhiều cho con kiếm tình hạnh phúc cả. Ngược lại, nó còn tạo cơ hội cho con thấy ê chề, bất hạnh nhiều hơn. Chúng cũng tạo những lợi khí cho con gây thêm nghiệp mới.
HG như bừng tỉnh, nàng hiểu những mặt trái của tiền tài và sắc đẹp. Vâng, tất cả những thứ đó chỉ là xúc tác cho nghiệp chướng chóng sinh trưởng" Thế còn những bất hạnh của nàng" Chúng không có một chút đóng góp tích cực nào sao" Nhân quả có công bằng không"
Như đọc được những tư duy của nàng. Người Nữ Ni cất giọng:
- Con đừng tưởng như vậy" Thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế, có nàng Kim Liên Sắc, hoàn cảnh còn thê thảm hơn con gấp nhiều lần. Nhưng cũng chính vì vậy, nàng đã được Đức Phật khai thị, nàng đã xuất gia và là một người phụ nữ đắc thánh quả A La Hán đầu tiên và có thần thông ngang ngửa với ngài Mục Kiền Liên. Cho nên những khổ đau, là chất xúc tác khiến cho con đến gần với Đạo! Ở đời chỉ có hai loại người có thể đến với Đạo: 1) Đại trí và đại bi. 2) Quá khổ đau. Hai loại người này, khi đã đến với Đạo, họ thiết tha vô vàn, họ sẽ tìm ra con đường giải thoát!
HG mường tượng ra con đường trước mặt. Phải rồi, nàng đã tìm ra một con đường thoát. Tiếng vị Ni Sư lại cất lên:
- Nghiệp trần con đã trả hết rồi, song duyên trần thì con chưa hề trả. Con chưa thể thí phát vào cửa Không được. Nhưng con có thể quy y ngũ giới, giữ trọn đạo hạnh giới thể của người Ưu Bà Di (người nữ Phật tử thuần thành).
HG tràn đầy hạnh phúc, khi nàng biết, nghiệp đã trả hết, bây giờ là lúc duyên sanh. Song nàng vẫn băn khoăn:
- Bạch Ni Sư, con không biết nghiệp con đã tạo tác kiếp này thì bao giờ con mới trả được"
Vị Ni Sư không trả lời trực tiếp câu hỏi mà ngâm nga câu kệ:

"Ư nhất niệm quy y
Năng diệt tam kỳ nghiệp"
(Quy y tròn một niệm
Diệt sạch nghiệp ba kỳ!)

Ngưng một phút, vị Ni già nói thêm:
- Con ạ, khi con vào một căn phòng tối, con bật ngọn đèn sáng lên, thì căn phòng sẽ còn tối hay đợi 1 hai ngày sau mới sáng, hay sẽ sáng lên ngay"
- Bạch Ni Sư sẽ sáng lên ngay ạ!
- Đúng rồi đó con, cho nên khi con trọn nguyện quay về với Chánh Pháp, thì ánh sáng Chánh Pháp sẽ đánh tan đi nghiệp của ba A Tăng Kỳ Kiếp (vô lượng kiếp) đó con. Cho nên Phật dạy: "Bể khổ mênh mông, quay đầu thì sẽ thấy bờ!" Nay con quay đầu lại đi. Hãy khép lại quá khứ. Tương lai đang đợi chờ con kìa. Con về đi!

Vị Ni Sư phất tay áo đứng lên. HG lật đật đứng dậy vái chào. Vị Ni Sư chậm rãi về hướng sau chùa, trước khi khuất dạng, bà khẽ ngâm nga hai câu kệ "Giác Hoa":

"Hoa! Vô thường, vô định!
Giác! Vô bố, vô ưu!"
(Dịch nghĩa:
Hoa! Không bền, không mãi!
Tỉnh! Không sợ, không phiền!

Nghĩa là: Bản thể của loài hoa vốn vô thường, nay nở mai tàn, không thể bền lâu hay bất tử với thời gian. Cái gì có hình tướng, thời có hoại diệt. Sắc đẹp của con người ta cũng vậy, không nên lợi dụng nó làm lợi khí hại người, cũng không nên vì nó mà tạo nên ác nghiệp. Vì hương sắc sẽ tàn phai, song nghiệp quả còn tồn tại, cho đến khi người ta trả sạch. Chỉ có Tỉnh Thức mới giúp cho con người ta không còn bị khủng bố (sợ hãi) và phiền não bủa vây nữa. Giác Hoa cũng có nghĩa là Bông Hoa Tỉnh Thức!)

HG vô cùng xúc động. Nguồn an lạc tràn đầy trong tâm. Nàng đứng dậy, lạy tạ Tôn Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Nàng tự hỏi có phải Quan Thế Âm Bồ Tát đã thị hiện ra cứu độ cho nàng hay chăng" Dù đúng dù sai, nàng cũng đã trải qua một thời Pháp Thoại rất bổ ích.

Nàng tự hứa trước Quan Thế Âm Bồ Tát, nàng đã khép lại cánh cửa quá khứ. Cánh cửa tương lai vụt mở. Ánh sáng cuối hầm cũng đã làm loá mắt những người không còn tin vào có ngày họ được thấy lại ánh sáng.

Hồi hướng: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nếu câu chuyện "Giác Hoa" này có mang lại được chút lợi lạc nào, giúp cho chúng ta chăm sóc con cái chu đáo hơn, không để những chuyện đáng tiếc xảy ra như trường hợp của HG. Hoặc cho những người lầm lỡ, biết lối quay về... thì xin đem công đức này hồi hướng trọn vẹn cho HG, người con gái đã gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống. Cầu hồng ân chư Phật che chở nàng trong oai lực vô biên. Gia hộ cho nàng tinh tấn trên con đường tìm về với chân giác ngộ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiếm ai có thể hình dung cơn bão tin giả (fake news) hoành hành khắp nước Mỹ trong tám năm qua, từ cuộc bầu cử 2016, lại thổi đến từ Veles – một thị trấn xa xôi nằm phía tây nam châu Âu, ở North Macedonia, trên dòng sông Vardar êm ả. Không nói cũng không ai biết. Những câu chuyện trong bóng tối này mãi mãi không bước ra ánh sáng, hoặc cũng chỉ rất ít người biết đến, thấu rõ đường đi nước bước của thánh địa tin giả này, cho đến khi cuốn sách “The Book Of Veles” của nhiếp ảnh gia Jonas Bendiksen được xuất bản. Ông là người Na-Uy, thành viên của hội nhiếp ảnh danh giá Magnumphoto.
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng sắc đẹp sẽ mang lại lợi thế trong các mối quan hệ, học tập và công việc. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu việc “không được đẹp đẽ” không chỉ là một điều bất lợi mà còn bị coi là phạm pháp? Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, ở Hoa Kỳ từng có các luật gọi là “luật xấu xí” (ugly laws), cấm những người có vẻ ngoài “khó coi” xuất hiện ở các nơi công cộng.
Dự án 2025 đề ra những thay đổi sâu rộng trong toàn bộ chính phủ liên bang, đặc biệt trong chính sách kinh tế và xã hội, và vai trò của chính phủ và các cơ quan liên bang. Trong những thay đổi đó có cả việc cắt giảm tài trợ cho Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ), tháo dỡ cơ quan điều tra FBI và Bộ An ninh Nội địa, hủy bỏ các quy định về môi trường và biến đổi khí hậu để giúp gia tăng sản xuất nhiên liệu như dầu hỏa, cùng loại bỏ các Bộ Giáo dục và Thương mại ra khỏi nội các chính phủ. Hãng thông tấn Associated Press có một bài tóm tắt song rành mạch những chương trình của Dự án 2025 đối nội cũng như đối ngoại, tại đường dẫn này. Bao gồm trong Dự án 2025 cũng gồm cả việc lập tức dùng Đạo luật nổi dậy năm 1807 để tổng thống có thể ra lệnh cho quân đội vào dẹp các vụ biểu tình chống đối chính phủ, cùng chỉ đạo Bộ Tư pháp truy lùng các đối thủ của ông Trump. Chính ông Trump cũng đã từng tuyên bố với những người ủng hộ ông là ông là người sẽ giúp họ phục hận. Theo luật hiện hành, quân đội không đượ
Nghèo đói là yếu tố quyết định mạnh mẽ của bệnh Lao. Môi trường sống và làm việc đông đúc và kém thông gió thường liên quan đến nghèo đói, tạo thành các yếu tố gây nguy cơ trực tiếp cho việc lây truyền bệnh lao. Suy dinh dưỡng cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng để bệnh phát triển. Nghèo đói lại cũng liên quan đến tình trạng kém kiến thức về sức khỏe và từ đó thiếu những sự bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày dẫn đến nguy cơ tiếp xúc và truyền bệnh.
Trong hai ngày Thứ Bảy & Chủ Nhật 17 & 18/08/2024, tại Bowers Museum, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt phối hợp cùng Trung Tâm Việt Nam Texas Tech University, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt - Mỹ University of Oregon đã tổ chức hai buổi triển lãm và thảo luận về hai chủ đề: Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc Việt Nam và Cuộc Di Cư Năm 1954. Khoảng 1,000 lượt người đã đến tham dự hai sự kiện về lịch sử từ bảy thập niên trước. Có thể nói rằng lâu lắm rồi tại Thủ Đô Người Việt Tị Nạn mới có một sự kiện lịch sử được tổ chức với qui mô lớn và công phu như thế. Động lực nào đã khiến ba tổ chức chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam cùng nhau tổ chức sự kiện này? Ông Châu Thụy, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt nói lời khai mạc, chào mừng mọi người đến với cuộc triển lãm và hội thảo, để cùng nhau ôn lại, nhìn theo những góc nhìn mới về hai sự kiện lịch sử vẫn còn ảnh hưởng đến người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đến tận ngày hôm nay.
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.