Hôm nay,  

Chớ Phản Bội

07/05/200400:00:00(Xem: 6194)
PVM chuyễn ngữ
(Bài này được cháu Phạm Xuân Quang, tức con trai của cố Trung Tá KQ Phạm Văn Hòa, cho phép trích dịch bài đã đăng trên website www.phamxuanquang.com với tựa đề U.S. Mustn't Betray Iraq as It Did South Vietnam. Phạm Xuân Quang cũng đã từng là hoa tiêu của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Muốn đọc bản văn Anh ngữ, xin vui lòng vào trang nhà của Phạm Xuân Quang theo địa chỉ đã nêu)
Vừa quá ngọ ngày ba mươi tháng Tư năm 1975, một nhóm người Việt Nam tỵ nạn trên đảo Guam hốt hoảng òa lên khóc. Họ tụ tập gần phòng điều hành của trại để nghe ngóng tin tức qua đài BBC. Mẹ tôi cũng trong đám đông đó, phần lớn gồm có phụ nữ và người cao niên. “Cộng sản đã vào Sài Gòn. Thế là xong rồi.” Bản tin của đài phát thanh được loan đi khắp trại thật nhanh chóng.
Nỗi lo sợ khủng khiếp nhất của gia đình tôi đã thành hiện thực vì cha tôi còn kẹt lại ở một nơi nào đó giữa Sài Gòn. Nhưng, lúc bấy giờ tôi mới mười tuổi nên đâu có quan tâm đến mối tai họa đang xảy ra. Cơn nắng nhiệt đới ngày đó đã nung nấu chất mồ hôi mặn thẩm thấu vào da thịt tôi nên mãi sau này kỷ niệm của Việt Nam đã hằn sâu vào tâm não tôi.
Ngày hôm sau, gia đình tôi, may mắn nằm trong một số ít người thoát nạn, rời trại đi đến một cuộc đời mới trên đất nước Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chiến tranh đâu đã tàn và máu vẫn còn chảy ở Việt Nam. Ngày đó, Hoa Kỳ đã phản bội chúng tôi (dù cho từ đó đến nay nhiều người đã phản bác), lần duy nhất mà Hoa Kỳ đã bỏ rơi một đồng minh trên chiến trường.
Sau khi vụ tai tiếng Watergate truất phế Tổng Thống Nixon, Tổng Thống Ford đành bó tay dù cho cuối cùng ông có cam kết sẽ hổ trợ Nam Việt Nam trong khi miền Bắc dốc toàn lực vào cuộc tiến chiếm Sài Gòn. Quốc Hội đồng loạt quyết nghị chống lại việc tái hổ trợ dù cho Bắc Việt vi phạm hiệp định ngừng bắn một cách trắng trợn và thô bạo. Ngoại trừ một ít người thuộc Bộ Ngoại Giao, giới quân sự Hoa Kỳ và cơ quan định cư dân tỵ nạn, người Mỹ đã chán ngán. Cuộc chiến đã kéo dài trên một thập kỷ, với 58.235 người Mỹ hy sinh và vô số thiệt hại về vật chất và tâm lý. Về phía Nam Việt Nam có lối 300.000 binh sĩ phải trả cái giá quá đắt. Còn nhân dân Việt Nam thì từ hai đến ba triệu người bị thiệt mạng.

Không phải Hoa Kỳ mà chính người Nam Việt Nam đã thua trận ở Việt Nam. Những người còn kẹt lại phải trả một cái giá nặng nề vì đã thua cuộc lại mất cả đất nước. Cuộc đời của họ hoàn toàn đảo lộn. Sau khi chiến thắng được một tháng, cộng sản khởi sự đưa hàng triệu người, gồm có viên chức chính phủ, nhà giáo và quân đội trước kia vào giam trong các trại “học tập cải tạo”, trong đó có cha tôi.
Ngoại trừ một ít ngoại lệ, những tù nhân này bị giam giữ mà không xét xử, không kết án mà cũng chẳng được ai bảo vệ để khỏi bị những tên cai tù hành hạ. Một tháng biến thành một năm rồi lên đến trên mười năm. Cha tôi bị giam mười hai năm. Những chuyên viên nhân quyền ước đoán khoảng 70.000 người bị hành quyết và hàng nghìn người chết vì lao động khổ cực, bệnh hoạn và thiếu dinh dưỡng trong khi thế giới bên ngoài nào có hay biết gì đến thân phận đau thương của họ.
Sau nhiều năm dưới quyền cai trị của cộng sản, hàng triệu người bắt đầu đào thoát, hầu hết bằng tàu bè. Theo Hội Hồng Thập Tự thì còn có 300.000 người chết ngoài biển cả. Ở nước Cam Bốt láng giềng trên hai triệu người chết trên những “cánh đồng Tử Thần” của Khờ Me Đỏ. Dù cho trong những năm sau chiến tranh người ta còn tiếp tục tìm kiếm người Mỹ bị cầm tù hay mất tích vậy mà phải nhiều năm sau Liên Hiệp Quốc mới chịu điều tra về tệ nạn của các trại học tập cải tạo.
Rồi đây ngày 30 tháng Sáu sẽ đưa người I Rắc về đâu " Suốt một năm qua, từ khi Baghdad được giải phóng đến nay, chiến thắng đã biến thành cảnh trạng bấp bênh bất định. Càng ngày càng dứt khoát là Tổng Thống Bush không thể để cho tình hình dây dưa nữa được. Người Mỹ đã nãn lòng, nhất là những người không tham gia chiến đấu. Nhưng Hoa Kỳ không nên phản bội người I Rắc như đã phản bội Việt Nam. Dù cho thế nào đi nữa thì chiến sĩ của chúng ta cũng phải hoàn thành nhiệm vụ của họ và chỉ rời I Rắc khi nào nước này có thể tự quản với một chính phủ ổn định. Bằng không thì hãy bắt đầu dựng lên trại tỵ nạn cho người I Rắc đã từng đứng về phía chúng ta, dù cho chỉ là một số ít.
Tôi vẫn còn nhớ chuyến bay đưa tôi vào đất Mỹ. Miền nhiệt đới của đảo Guam đã tạm thời cho chúng tôi mường tượng đến đất nước Việt Nam, nhưng chúng tôi cứ vẫn phải tiếp tục đi tới. Khi chiếc vận tải cơ lăn bánh trên phi đạo, tôi nhìn thấy hai hàng phi cơ phản lực màu xanh đậm đang đậu ngay hàng thẳng lối, không một bóng dáng phi hành đoàn mà cũng không có chất bom đạn. Đó là những chiếc B-52 mà người Nam Việt Nam nghĩ rằng sẽ bay sang một chuyến nữa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi sinh truởng ở miền Nam lớn lên theo cuộc chiến, tôi biết Hà Nội qua sách vở, báo chí. Trong chiến tranh tôi nhìn về phương Bắc như một kẻ thù cần phải tiêu diệt, mộng ước của chúng tôi phải đặt chân lên Hà Nội bằng đôi giầy "sô". Nhưng những điều đó chỉ là một ảo tưởng. Kết thúc cuộc chiến 20 năm
Tháp Eiffel rất đẹp, rất đặc biệt, rất Paris. Tôi chỉ biết đồng ý với các bạn tôi từ Cali qua thăm viếng Paris. Viếng Paris hay viếng tháp Eiffel" Tôi nhìn cái tháp đen xì ấy đã hơn năm chục năm nay, nên không cò gì thương ghét đặc biệt. Có thể không có nó thì Paris rất thiếu thốn" Nhưng người dân
“Một vai cõng Mẹ, một vai cõng Cha, suốt trăm năm cũng không trả đủ ơn nghĩa sinh thành”. Câu này để nói lên ơn Cha Mẹ như trời biển. Nhưng dù có nói đến thế thì trăm năm cũng còn giới hạn thời gian, trời biển cũng còn giới hạn không gian
Ai cũng biết Bình Thuận-Phan Thiết từ ngày thành lập đến nay, phần lớn gắn liền với cuộc sống miền biển. Do trên khi những ngư dân đầu tiên đến lập nghiệp, dựng làng, đều không quên những vị tiên hiền, những người đã có công tạo lập và hình thành phát triển nơi dung thần mới. Ðình làng
Tôi ngồi một mình, ngoài vườn đêm. Trời không trăng, không sao. Không gian sẫm tối, im lìm và tĩnh lặng. Bỗng nhiên, tôi nghe thấy tiếng vỗ cánh vội vã của con chim lạc đàn, về muộn, tiếng dế hát bản nhạc buồn dưới bụi cỏ ẩm sương đêm. Chỉ có thế thôi nhưng cánh chim về muộn, tiếng dế hát bản nhạc buồn dưới bụi cỏ ẩm
Tôi trở về Phan Thiết sau ngày ngưng bắn. Tình ra đã xa quê hương hơn mười mấy năm trường, bởi kiếp lính nổi trôi vô định. Trong thời gian đó, thỉnh thoảng có quay về thăm quê nhưng cũng chẳng qua chỉ như một người khách lạ, vì dăm ba ngày phép, chỉ đủ vui say với đám bạn bè tuổi nhỏ
Cuộc chiến tranh Trung Đông bùng nổ trở lại ngày 12/7/2006 làm cho thế giới hết sức lo âu giữa một mùa hè nóng gắt chưa từng thấy. Nhiều người lo ngại cuộc tấn công của Do Thái vào nam Liban để dẹp đoàn dân quân Hezbollah sẽ kéo theo, trước hết các nước Trung Đông, sau đó là các
Trong xã hội văn minh, dân chủ, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền tự do đi lại là một trong nhiều quyền mà bất kỳ một chính phủ của đảng phái nào cũng phải thể hiện trong văn bản hiến pháp và tuyệt đối tôn trọng. Tại Việt Nam quyền ấy cũng đã có trong hiến pháp, nhưng không phải ai cũng hưởng được. Tôi là Phạm Bá Hải
Nếu nghe tiếng bom rơi đạn réo, người ta thấy như tình hình Trung Đông không có tiến triển, giao tranh vẫn tiếp tục và còn ác liệt hơn từng ngày. Nhưng nếu nghe lời phát biểu của những người trong cuộc, tình hình sẽ phải sớm có biến chuyển. Đầu tiên là Ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice tuyên bố rằng Trung Đông
Hoa Thịnh Đốn.- Những người Cộng sản Việt Nam vừa cao rao thắng lợi của công tác tư tưởng, văn hoá trong 76 năm qua là do họ biết “nhìn thẳng và nói rõ sự thật, nói đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân”, nhưng liệu họ có giấu được tội ác của chính sách tuyên truyền dối trá mà đảng


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.