Hôm nay,  

Chớ Phản Bội

07/05/200400:00:00(Xem: 10434)
PVM chuyễn ngữ
(Bài này được cháu Phạm Xuân Quang, tức con trai của cố Trung Tá KQ Phạm Văn Hòa, cho phép trích dịch bài đã đăng trên website www.phamxuanquang.com với tựa đề U.S. Mustn't Betray Iraq as It Did South Vietnam. Phạm Xuân Quang cũng đã từng là hoa tiêu của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Muốn đọc bản văn Anh ngữ, xin vui lòng vào trang nhà của Phạm Xuân Quang theo địa chỉ đã nêu)
Vừa quá ngọ ngày ba mươi tháng Tư năm 1975, một nhóm người Việt Nam tỵ nạn trên đảo Guam hốt hoảng òa lên khóc. Họ tụ tập gần phòng điều hành của trại để nghe ngóng tin tức qua đài BBC. Mẹ tôi cũng trong đám đông đó, phần lớn gồm có phụ nữ và người cao niên. “Cộng sản đã vào Sài Gòn. Thế là xong rồi.” Bản tin của đài phát thanh được loan đi khắp trại thật nhanh chóng.
Nỗi lo sợ khủng khiếp nhất của gia đình tôi đã thành hiện thực vì cha tôi còn kẹt lại ở một nơi nào đó giữa Sài Gòn. Nhưng, lúc bấy giờ tôi mới mười tuổi nên đâu có quan tâm đến mối tai họa đang xảy ra. Cơn nắng nhiệt đới ngày đó đã nung nấu chất mồ hôi mặn thẩm thấu vào da thịt tôi nên mãi sau này kỷ niệm của Việt Nam đã hằn sâu vào tâm não tôi.
Ngày hôm sau, gia đình tôi, may mắn nằm trong một số ít người thoát nạn, rời trại đi đến một cuộc đời mới trên đất nước Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chiến tranh đâu đã tàn và máu vẫn còn chảy ở Việt Nam. Ngày đó, Hoa Kỳ đã phản bội chúng tôi (dù cho từ đó đến nay nhiều người đã phản bác), lần duy nhất mà Hoa Kỳ đã bỏ rơi một đồng minh trên chiến trường.
Sau khi vụ tai tiếng Watergate truất phế Tổng Thống Nixon, Tổng Thống Ford đành bó tay dù cho cuối cùng ông có cam kết sẽ hổ trợ Nam Việt Nam trong khi miền Bắc dốc toàn lực vào cuộc tiến chiếm Sài Gòn. Quốc Hội đồng loạt quyết nghị chống lại việc tái hổ trợ dù cho Bắc Việt vi phạm hiệp định ngừng bắn một cách trắng trợn và thô bạo. Ngoại trừ một ít người thuộc Bộ Ngoại Giao, giới quân sự Hoa Kỳ và cơ quan định cư dân tỵ nạn, người Mỹ đã chán ngán. Cuộc chiến đã kéo dài trên một thập kỷ, với 58.235 người Mỹ hy sinh và vô số thiệt hại về vật chất và tâm lý. Về phía Nam Việt Nam có lối 300.000 binh sĩ phải trả cái giá quá đắt. Còn nhân dân Việt Nam thì từ hai đến ba triệu người bị thiệt mạng.

Không phải Hoa Kỳ mà chính người Nam Việt Nam đã thua trận ở Việt Nam. Những người còn kẹt lại phải trả một cái giá nặng nề vì đã thua cuộc lại mất cả đất nước. Cuộc đời của họ hoàn toàn đảo lộn. Sau khi chiến thắng được một tháng, cộng sản khởi sự đưa hàng triệu người, gồm có viên chức chính phủ, nhà giáo và quân đội trước kia vào giam trong các trại “học tập cải tạo”, trong đó có cha tôi.
Ngoại trừ một ít ngoại lệ, những tù nhân này bị giam giữ mà không xét xử, không kết án mà cũng chẳng được ai bảo vệ để khỏi bị những tên cai tù hành hạ. Một tháng biến thành một năm rồi lên đến trên mười năm. Cha tôi bị giam mười hai năm. Những chuyên viên nhân quyền ước đoán khoảng 70.000 người bị hành quyết và hàng nghìn người chết vì lao động khổ cực, bệnh hoạn và thiếu dinh dưỡng trong khi thế giới bên ngoài nào có hay biết gì đến thân phận đau thương của họ.
Sau nhiều năm dưới quyền cai trị của cộng sản, hàng triệu người bắt đầu đào thoát, hầu hết bằng tàu bè. Theo Hội Hồng Thập Tự thì còn có 300.000 người chết ngoài biển cả. Ở nước Cam Bốt láng giềng trên hai triệu người chết trên những “cánh đồng Tử Thần” của Khờ Me Đỏ. Dù cho trong những năm sau chiến tranh người ta còn tiếp tục tìm kiếm người Mỹ bị cầm tù hay mất tích vậy mà phải nhiều năm sau Liên Hiệp Quốc mới chịu điều tra về tệ nạn của các trại học tập cải tạo.
Rồi đây ngày 30 tháng Sáu sẽ đưa người I Rắc về đâu " Suốt một năm qua, từ khi Baghdad được giải phóng đến nay, chiến thắng đã biến thành cảnh trạng bấp bênh bất định. Càng ngày càng dứt khoát là Tổng Thống Bush không thể để cho tình hình dây dưa nữa được. Người Mỹ đã nãn lòng, nhất là những người không tham gia chiến đấu. Nhưng Hoa Kỳ không nên phản bội người I Rắc như đã phản bội Việt Nam. Dù cho thế nào đi nữa thì chiến sĩ của chúng ta cũng phải hoàn thành nhiệm vụ của họ và chỉ rời I Rắc khi nào nước này có thể tự quản với một chính phủ ổn định. Bằng không thì hãy bắt đầu dựng lên trại tỵ nạn cho người I Rắc đã từng đứng về phía chúng ta, dù cho chỉ là một số ít.
Tôi vẫn còn nhớ chuyến bay đưa tôi vào đất Mỹ. Miền nhiệt đới của đảo Guam đã tạm thời cho chúng tôi mường tượng đến đất nước Việt Nam, nhưng chúng tôi cứ vẫn phải tiếp tục đi tới. Khi chiếc vận tải cơ lăn bánh trên phi đạo, tôi nhìn thấy hai hàng phi cơ phản lực màu xanh đậm đang đậu ngay hàng thẳng lối, không một bóng dáng phi hành đoàn mà cũng không có chất bom đạn. Đó là những chiếc B-52 mà người Nam Việt Nam nghĩ rằng sẽ bay sang một chuyến nữa.

Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.
Năm 1979, Steve cho xuất bản Indochina Newsletter là tài liệu liên quan đến các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sau ngày 30/4/1975, sau đổi tên thành Indochina Journal, rồi Vietnam Journal. Tôi và vài người Việt nữa đã cùng làm việc với Steve trong việc phối kiểm tin tức liên quan đến tù nhân lương tâm và dịch nhiều tài liệu của các phong trào đòi tự do dân chủ tại Việt Nam sang tiếng Anh, như Cao trào Nhân bản của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Diễn đàn Tự do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, các bài giảng về sám hối vào Mùa chay 1990 của linh mục Chân Tín, cũng như những tuyên cáo về tình trạng thiếu tự do tôn giáo của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát; của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Mục tiêu ban đầu khi Tổng thống John F. Kennedy thành lập USAID trong cuộc chiến tranh lạnh với Nga vào năm 1961, nội các của ông không chỉ nhắm đến các viện trợ dân sự và nhân đạo mà còn mang mục đích sâu xa hơn: Đó là sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác sẽ bảo vệ cho nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Mục đích này vẫn không thay đổi sau hơn sáu thập niên hoạt động của USAID, qua nhiều đời tổng thống Mỹ. Bởi lợi ích của nước Mỹ nằm khắp thế giới, những sự giúp đỡ, viện trợ trước mắt mang lại lợi ích chiến lược lâu dài cho nước Mỹ. Các nghiên cứu về USAID cho thấy quyền lực mềm của nước Mỹ do USAID đã mang lại thiện cảm về nước Mỹ, giúp hàng hóa, sản phẩm Mỹ được ưa chuộng tại các thị trường nội địa và gián tiếp giúp cho các tập đoàn Mỹ nhận được các hợp đồng kinh tế to lớn so với các đối thủ. Ngược lại, khi thiện cảm này bị mất đi, hay thậm chí bị ghét bỏ, làn sóng tẩy chay hàng Mỹ là lẽ đương nhiên. Những chương trình giáo dục, huấn nghệ cho trẻ em các nước chiến tranh
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.