Hôm nay,  

Những Mảnh Đời Dang Dở

28/09/200400:00:00(Xem: 6793)
Chiều thứ Bảy ngày 18 tháng 9 năm 2004, sau khi lái xe vượt hàng chục dặm từ Little Sài Gòn, tôi và văn hữu Tiến sĩ Nguyễn Hưng có mặt tại địa điểm của Hội Người Việt San Fernando Valley, nơi tổ chức lễ ra mắt sách "Những Mảng Đời Dang Dở" của nhà văn Nguyễn Ngọc Minh, do bán nguyệt san Thằng Mõ Nam California của nhà văn Tâm An bảo trợ, buổi ra mắt sách kỹ niệm 32 năm khi TQLC của VHCH tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, 16 tháng 09, 1972.
Chưa đến giờ khai mạc mà hội trường đã đầy chật người. Các quan khách: thi, văn, nghệ sĩ, diễn giả, thân hữu cười nói bắt tay vồn vã thân tình. Trên bàn thờ Tổ quốc nào hoa, phướn, lộng, quốc kỳ Việt Mỹ trang trọng oai nghiêm. Bên góc trái hội trường, chúng tôi thấy tác giả, cựu thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Ngọc Minh, với bộ vét đậm trang nhả, đang ký tặng sách đến quý thân hữu. Trên sân khấu, ban nhạc đầy đủ năm người, đang hòa tấu những nhạc bản tuyệt vời giúp cho quan khách càng thỏa mái trong khi lai rai vài món thức ăn nhẹ được ban tổ chức thiết đải tận tình.

Đúng 7 giờ, nhà văn Tâm An, trưởng ban Tổ chức thay mặt tác giả, chào mừng quan khách, giới thiệu chương trình. Các diễn giả gồm có:
- Nhà văn Tâm An.
- Nhà văn Nguyễn Ngọc Minh
- Nhà văn Quí Văn.
- Nhà thơ Trần Việt Hải.
- Nhà thơ Vũ Hoà i Mỹ.
Mở đầu cho buổi ra mắt sách, nhà văn Tâm An nói về quá trình của cuốn sách kể từ khi tờ báo của anh nhận đăng những truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Minh. Là một cựu quân nhân trong QLVNCH, anh hiểu tâm trạng của người chiến binh mũ xanh Cọp Biển Nguyễn Ngọc Minh. Để rồi từ đó tờ báo bán nguyệt san Thằng Mõ Nam Cali đã trợ lực việc lay out và phát hành tập sách này.
Kế tiếp, diển giả chính là nhà văn Nguyễn Ngọc Minh lên chia xẻ tâm sự vì sao anh hình thành những mẫu chuyện đã xảy ra trong đời quân ngủ, khi anh xếp bút nghiên gia nhập đơn vị tác chiến, thuộc đại đội 3, tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến, trấn đóng vùng địa đầu chiến tuyến thuộc tỉnh Quảng Trị. Đơn vị anh chiến đấu đến cùng trước khi bị quân đội CSVN trấn áp bằng hỏa lực vào tháng 3, năm 1975. Anh cùng các bạn bị bắt và mang kiếp tù đày. Khi thoát thân ra nước ngoài, anh ngậm ngùi ưu tư về các bạn đồng ngũ đã hy sinh tại chiến địa và các anh em thương phế binh đang còn lê thê mang mảnh đời dang dở, lang thang sống vất vưỡng trên vĩa hè quê hương Việt Nam nơi đang bị bọn CS vô thần ngự trị.
Kế đến, văn hữu Việt Hải, người đã gởi lời mời các văn hữu Văn Bút Nam Cali chúng tôi tham dự buổi ra mắt sách hôm nay. Tuy bị tàn tật, nhưng với âm điệu thân mật nồng nàn, anh Viêt Hải kể lại như lời tâm sự về tình bạn giữa anh và anh tác giả Nguyễn Ngọc Minh. Người cậu họ của anh Việt Hải là trung tá Võ Trí Huệ, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 TQLC, cũng là niên trưởng của tác giả, cũng đều chia xẻ những điểm chung của binh chủng oai hùng này. Anh Việt Hải cũng ôn lại hơn 20 năm, hai người biết nhau tại đây cùng sinh hoạt chung trong cộng đồng và chia những điểm tương đồng về cả chính trị lẫn văn chương.
Tiếp theo là nhà thơ Vũ Hoài Mỹ lên diễn đàn chia xẻ những cảm nghĩ của chị khi chị đọc tác phẩm này. Sau đây là một đoạn mà chị phát biểu:
“Với cách viết bình dị và rất "thực", tác giả đã đưa chúng ta trở về với quá khứ chiên đấu oai hùng của dân tộc Việt Nam.Phải nói đây là một cuốn hồi ức tình cảm chiến tranh thì đúng hơn vì tôi đọc thấy ở NMĐDD là những trang hồi ức của một thanh niên đầy nhiệt huyết, với tâm lòng tha thiết yêu quê hương, yêu đồng bào, sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ của chính mình để chiến đấu với giặc thù, đem lại an bình cho quê hương dân tộc. NMĐDD đã vẽ lên được những hình ảnh rất hào hùng của các quân nhân TQLC nói riêng và của toàn thể chiến sĩ QLVNCH nói chung.
Trong toàn tập hồi ký NMĐDD tác giả đã nói lên cái luyến tiếc của anh, cái luyến tiếc vì ước nguyện hy sinh cả tuổi trẻ, tương lai cho quốc gia, dân tộc, để rồi nửa đường các anh phải buông súng chịu cái thân phận kẻ bại trận. Bại trận chẳng phải vì các anh hèn nhát mà vì quân đội của chúng ta đã sa vào cái thế bị bỏ rơi!

Tôi cũng nhìn thấy ở NMĐDD qua tâm tình của tác giả, gương hy sinh của những bà mẹ già, những người vợ trẻ, những đứa con thơ và những người yêu bé nhỏ ở hậu phương... Máu của các anh cũng đỏ thắm, tim các anh cũng nồng nàn tình yêu thương nhưng vì tình yêu quê hương cao cả, các anh đã hy sinh những tình riêng để rồi cuối cùng quê hương thân yêu của chúng ta vẫn phải ngậm ngùi rơi vào cái hoàn cảnh nghiệt ngã, để lại rất nhiều ...những mảnh đời dang dở !
Với lời văn khiêm tốn và thành thật, tác giả đã viết nhiều về những hy sinh của các bạn trẻ với những tương lai đầy hứa hẹn, có thể họ đã là những bác sĩ, kỹ sư… nếu chẳng vì hy sinh để theo đuổi con đường phục vụ, chiến đấu bảo vệ tự do, no ấm cho quê hương dân tộc.

Qua NMĐDD, Nguyễn Ngọc Minh đã cho chúng ta thấy sức chịu đựng phi thường của cá nhân anh nói riêng và của người chiến sĩ VNCH nói chung khi kể lại những nhọc nhằn, cơ cực của tháng năm bị giam cầm trong lao tù cộng sản và rồi những khốn khó gian nan trong chuyến vượt biên tìm tự do bằng đường bộ suốt 2 tháng trời.

Cũng trong NMĐDD, chúng ta được nghe những chuyện rất thật, anh nhắc lại từng kỷ niệm với tất cả bạn bè. Từ những ngày mới nhập ngũ, đến kỷ niệm khi các anh được về hậu cứ nghỉ ngơi đôi ngày, những gian lao vất vả trong những trận chiến khốc liệt bên đồng đội của anh. Với những day dứt xót xa anh đã kể cho chúng ta nghe ai còn, ai mất… Xúc động nhất là đoạn Nguyễn Ngọc Minh nhắc đến những mảnh đời dang dở rất khốn nạn còn bị bỏ rơi gần như quên lãng, đó là những anh em thương phế binh của QLVNCH hiện còn đang sống rất cơ hàn và tủi nhục tại quê nhà.”
Chị như rưng rưng dòng nước mắt chia xẻ nổi điêu linh từ cuộc chiến cũ:
“Đọc NMĐDD không khỏi làm cho lòng tôi chùng xuống, thương cho đất nước Việt Nam của chúng ta đã phải rơi vào một hoàn cảnh thật bi đát, cái hoàn cảnh đã làm cho những người chiến sĩ rất hào hùng của chúng ta đã không được cái hãnh diện là kẻ chiến thắng, cái vinh dự mà họ rất xứng đáng! Những hy sinh cũng như những chiến đấu kiêu hùng của các anh luôn luôn vẫn là niềm hãnh diện của cả dân tộc Việt Nam, thật đáng là những tấm gương oai dũng cho những thế hệ mai sau.

Cái giá trị của NMĐDD không chỉ là một tập bút ký chiến tranh ghi lại những kỷ niệm đời binh nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Minh mà thôi, nó còn có giá trị lịch sử và địa lý, đóng góp thêm cho tài liệu quân sử và lịch sử chiến tranh Việt Nam...”
Tất cả những người trong hội trường đang yên lặng lắng nghe, bỗng vang lên những tràng vỗ tay không ngừng. Thật là tuyệt vời của một nữ sĩ có một cái nhìn thật chính xác về cuộc chiến mà tác giả là một trong những chứng nhân lịch sử. Sau cùng là chị Hoài Mỹ giới thiệu nhà văn Quí Văn, đến từ San Gabriel Valley, trước 75, ông là một đại tá Quân Pháp. Nhà văn Quí Văn mở đầu bằng giọng nói thâm trầm, từ tốn ông cho biết:

"Chúng tôi vừa mới quen anh Nguyễn Ngọc Minh. Sau khi đọc cuốn hồi ký này chúng tôi có cảm tưởng là đã biết anh từ lâu. Phải chăng là vì trong hồi ký này anh đã nói về cuộc đời lính anh đã từng trải qua và hầu hết những ai cầm súng trong tiền đồn miền Nam đều cùng chung có ý nghĩ giống như anh.

Đọc hồi ký, chúng tôi nhận thấy từ 1972 đến ngày miền Nam chúng ta mất vào tay CSVN, ngay trước và sau ngày Hiệp định Paris được ký kết, anh Nguyễn Ngọc Minh đã là một sĩ quan phục vụ tại tuyến đầu của đất nước, nơi mà người lính TQLC đã đóng góp xương máu vào công cuộc giữ đất, giữ dân, giành đất, giành dân lại mỗi khi CS lấn chiếm mà anh Minh nhập đại cuộc vào những năm sau cùng của Miền Nam Tự Do, và hôm nay hơn 30 năm sau, anh vẫn chưa rời đại cuộc. Sách của anh có những trang đầy hào khí, có những trang đầy bất bình làm chúng tôi nhớ đến tướng George Smith Patton của Hoa Kỳ trong thời Đệ nhị thế chiến. Một hôm khi trả lời báo chí phỏng vấn, ông đã nói: "Trước hết tôi là một người lính. Tôi không là một chính khách, hay một nhà ngoại giao hay một chính trị gia. Tôi không phải rào đón gì cả...".
Sau phần các diễn giả mạn đàm về tác phẩm NMĐDD là đến phần hai góp vui văn nghệ "Cùng hát nhau nghe". Với sự đóng góp những tiếng hát nồng nàn đượm màu nhớ quê hương như ca sĩ Thanh Mỹ, nữ thi ca sĩ Vũ Hoài Mỹ, tác giả Nguyễn Ngọc Minh và hơn 10 ca sĩ địa phương càng làm cho buổi ra mắt sách thêm phần sinh động, hào hứng khi tiếng vỗ tay tiếp tục vang dội.
Cuối cùng, ban tổ chức cho biết tổng số tiền bán sách thu được là $2,755. Tất cả tiền bán sách (cả vốn lẫ n lời) dành gởi tặng cho những tổ chức từ thiện và các anh em Thương Phế Binh VNCH đang lây lất tại quê nhà.
Xin cảm ơn ban tổ chức và tác giả Nguyễn Ngọc Minh đã cho chúng tôi cơ hội, hội nhập vào dòng văn chương và những kinh nghiệm sống, cũng như trang sử mà TQLC tiểu đoàn 7 đã kinh qua nói chung hay tác giả nói riêng. Tôi nhớ là nhà biên khảo Mường Giang cũng đã đào sâu và nêu lên nghi vấn: "Có mấy ai làm chủ được mình hay vận mệnh đất nước mình ""

Với tôi, nhà văn Nguyễn Ngọc Minh với tác phẩm "Những Mảnh Đời Dang Dở" là một trong những viên gạch "sành" rắn rỏi góp phần không nhỏ vào trang sử hào hùng của QLVNCH được ra mắt tại hải ngoại, bổ xung vào thư viện Việt Mỹ, vinh danh tất cả công lao của những quân nhân cán chính VNCH, nhất là hình ảnh chiến đấu hào hùng của người lính mà các nhà văn, nhà báo Hoa Kỳ, ngoại quốc, đã cố ý bỏ qua. Như anh Việt Hải đã phát biểu: "Đây là vấn đề hệ trọng, như vậy thế hệ mai sau lớn lên nơi xứ người làm sao biết được những gì xảy ra trên mãnh đất chữ S mà cha ông ngày xưa đã tiêu hao bao nhiêu xương máu vun bồi lại nó."
Hơn thế nữa, dù là cưu mang mảnh đời dang dở sống nơi xứ người, nhưng tác giả không quên quyên góp tiền bạc để giúp đỡ các đồng đội thương phế binh đang kéo lê kiếp sống tàn tạ bên kia bờ đại dương. Cuộc đời của họ chỉ là những chuỗi nước mắt quê hương. Tôi đọc tác phẩm này trong nổi nghẹn ngào khi tác giả chùng lòng nói về các bạn anh đã hy sinh vào lòng đất hay tàn phế vì những oan khiên làm người. Xin gởi nhiều đoá hoa hồng đến tác giả Nguyễn Ngọc Minh.
Lịch sử của nhân loại hay của một dân tộc không phải là lịch sử của những kẻ chiến thắng dùng mọi thủ đoạn đê tiện chính trị quân sự hay một mánh lới nào đó để đè bẹp đối phương, rồi từ đó tự mình huênh hoang vẽ rồng vẽ rắn thêu dệt trên trang sách để đầu độc ngu dân. Và cũng không phải do một nhóm chóp bu phía bên này bên kia tự nổ tung ra để ca tụng phe mình. Lịch sử phải là sự bắt đầu từ những trang sử nhỏ của những con dân bình thường khi "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". Trong đó có những bút ký chiến tranh của những "sĩ phu" ghi lại toàn bộ nỗi bi hùng, hoặc kinh hoàng tàn khốc của cuộc chiến Việt Nam như "Mùa Hè Đỏ Lửa" của nhà báo, nhà văn chiến trường Phan Nhật Nam. Hay "Anh Hùng Bạt Mạng" của nhà văn Trần Thy Vân, tận dụng mọi khía cạnh ưu thế của địa hình, tâm lý, hay binh pháp quyét sạch địch quân, giành từng tất đất. Lịch sử có biết chăng những người lính trẻ kia đã trở thành những nạn nhân vô tổ quốc sau cuộc chiến, họ sống khiêm nhường cho những tháng ngày vì quê hương. Bao oan hồn Anh Linh Tử Sĩ, thương phế binh, quân dân cán chính miền Nam lần lượt ra đi tránh ách CS chuyên chế vô thần. Thê thảm hơn những loạt đạn AK vẫn căm hờn khạt lên những chiếc thuyền con vượt tìm tự do vô tội. Thân phận con người yêu tự do là thế đấy, hay thân phận của người lính VNCH là những chuổi ngày buồn khi ánh tà dương phủ lên vai họ một buổi chiều hoàng hôn của Những Mảnh Dang Dở, bi ai.
Xin trân trọng giới thiệu đến tất cả bạn đọc bút ký chiến tranh: "NHỮNG MÃNH ĐỜI DANG DỠ".
Mọi sự đóng góp ủng hộm mua sách xin vui lòng liên lạc về:
1- Bán nguyệt san Thằng Mõ, email: [email protected], hay
2- Qua phone cho tác giả (818 884-8271.
Chúng tôi ra về trong sự hân hoan biết thêm một cộng đồng người Việt phía Tây Bắc Los Angeles với khoảng 30,000 đồng hương cư ngụ, đã an cư lạc nghiệp, sống êm đềm trong tình thân ái đoàn kết và hiền hòa.

Anh Vũ
Mùa Thu Nam Cali, 9-26-2004

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.