Hôm nay,  

Ronald Reagan Lên Đồi

07/06/200400:00:00(Xem: 5443)
Tổng thống Ronald Reagan đã ngủ yên trên đó, ở một cõi tươi sáng hơn, để lại nhiều thương tiếc cho nhân thế dưới này... Những con người phi thường dường như còn biết từ biệt nhân thế theo đúng phong cách sống của mình.
Albert Camus, nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm về sự phi lý của cuộc đời, đã chết một cách phi lý: tai nạn xe hơi vào tuổi trung niên còn tràn nhựa sống. Antoine de Saint Exupery, một phi công thời chiến và nhà văn về một thế giới hư ảo của tình người, tác giả của “Hoàng tử bé”, đã biến mất năm 1944, trong một chuyến bay vào hư vô. Nguyễn Du của chúng ta, con người tài hoa không có hạnh phúc, đã nằm yên nghe bệnh thấm vào xương. Khi người nhà sờ nắn thân thể và báo là chân đã lạnh, ông thản nhiên nói: “Được!” và nhắm mắt ngủ giấc ngàn thu. Thế nào là “được”"
Cái chết của Ronald Reagan được cả thế giới nói tới, vì ông là nhà lãnh đạo, một Tổng thống thuộc loại xuất sắc nhất của lịch sử Hoa Kỳ. Nhưng, nghĩ đến cách ông ra đi, chúng ta nhớ tới các nhà văn, nghệ sĩ...
Ông chọn lúc ra đi không thể nào hợp thời hơn. Cái chết của ông là một nhắc nhở hợp thời.
Ronald Reagan thắng cử năm 1980 để nhậm chức tổng thống vào tuổi 69, thành vị tổng thống cao niên nhất khi vào tòa Bạch Ốc. Năm đó, hãng bảo hiểm nhân thọ Metropolitan Life Insurance Company đã làm một bản nghiên cứu về ảnh hưởng của chức vụ tổng thống đối với tuổi thọ. Làm tổng thống cũng giảm tuổi thọ như... hút thuốc lá. Trung bình, các vị tổng thống Mỹ bị giảm mất 3,9 năm, qua thế kỷ 20, thế kỷ ta gọi là văn minh tiến bộ, các tổng thống Mỹ bị giảm thọ mất 5,2 năm. Căn cứ trên công trình khảo cứu đó, MILC dự đoán Tổng thống Reagan còn sống được 11 năm sau khi nhậm chức, nghĩa là sẽ tạ thế vào năm 1992.
Các hãng bảo hiểm đều biết tính toán thống kê và xác suất rất cao, nên đoán thì ít lầm. Lầm thì sạt nghiệp. Nhưng Metropolitan Life Insurance đã lầm về Reagan. Như nhiều người khác, nhất là truyền thông và trí thức Âu-Mỹ, cũng đã lầm.
Nhiều người cho là ông gặp may, đóng phim thì xoàng, loay hoay thế nào mà làm Thống đốc California rồi làm Tổng thống Hoa Kỳ, thủy chung không có vẻ gì xuất chúng, về cả trí tuệ lẫn khả năng lãnh đạo. Dư luận báo chí thời của ông có cả chục giai thoại về sự lờ ngờ của Reagan khi làm tổng thống: không thuộc hồ sơ, không ưa chi tiết rắc rối, chỉ có vài nguyên tắc lý tưởng rồi cứ vậy mà làm, cho thuộc cấp tùy tiện giải quyết, và làm bậy, ở dưới. Vụ xì-căng-đan Iran-Contra (ngầm tài trợ cho Kháng chiến chống cộng tại Nicaragua và đi đêm với Iran) là thí dụ.
Hãng bảo hiểm đã lầm vì đến tháng 11 năm 1994 Ronald Reagan vẫn còn đó, chính thức thông báo trên lá thư viết tay lời giã biệt công chúng: ông bị bệnh Alzheimer và từ từ bước vào cõi “quên trí nhớ”. Từ đó, ta không biết gì thêm về ông, ngoài những chi tiết do người tình và người vợ tuyệt vời của ông là Nancy thông báo cho dư luận. Cho đến tuần qua. Vài năm trước, Nancy Regan đã tâm sự “nhà tôi đang đi vào nơi mà tôi không theo tới được nữa”. Ông chìm vào sự hôn mê kéo dài gần 10 năm, và mất vào buổi trưa Thứ Bảy mùng năm tháng Sáu, giờ Cali. Ông sống thọ hơn dự đoán của hãng bảo hiểm đến 12 năm, trở thành vị tổng thống có tuổi thọ cao nhất.
Sự nghiệp của ông còn tồn tại lâu hơn vậy.
Ronald Reagan không phải là người gặp may. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo miền Trung nước Mỹ, ở Illinois, với người cha nghiện rượu, Reagan đã phấn đấu để vươn lên trong khi nước Mỹ đang chìm sâu trong cuộc Tổng khủng hoảng. Ông tiếp tục phấn đấu, trong quân đội, trong ngành điện ảnh, truyền thanh, hoạt động nghiệp đoàn, và tự tìm cho mình một nhân sinh quan và xã hội quan không giống ai, nghĩa là đi ngược với tư duy của đa số cùng thời. Ông thuộc loại chính khách ít học nhất, vì vậy bị coi thường về trí tuệ. Thực tế thì ông có trí tuệ vượt xa đa số cùng thời. Từ cánh tả, từ đảng Dân chủ, ông chuyển về cánh hữu, và đưa tới cuộc cách mạng về tư duy và chủ trương của đảng Cộng hòa trong tám năm làm Thống đốc California.
Nhiều người tưởng rằng ông đã hết thời khi ủng hộ ứng viên cánh hữu của Cộng hòa là Barry Goldwater và ông này bị thảm bại. Reagan tồn tại lâu hơn vậy và đưa khuynh hướng bảo thủ lên đài vinh quang, làm thay đổi chính trường Mỹ tựa cơn động đất, một trận đại hồng thủy, khi thắng phiếu tại 44 trong 50 tiểu bang của Mỹ, một chiến thắng long trời lở đất.
Lịch sử sẽ ghi lại rằng Ronald Reagan làm thay đổi nước Mỹ và thế giới ở hai điểm chính.
Thứ nhất, “chính quyền là vấn đề chứ không là giải pháp”. Reagan nhậm chức với chủ trương giảm thiểu sự can thiệp của chính quyền, bằng việc giảm thuế, phá vỡ các thế lực đang nắm giữ chính quyền như con tin để làm suy yếu kinh tế, nghĩa là làm xã hội thêm nghèo nàn vì chính sách bao cấp. Chủ trương tự do kinh tế và giản lược hóa công quyền là di sản nội chính của Regan. Nhiều người cho rằng vì chính sách đó mà ngân sách quốc gia bị khiếm hụt, nhưng quên là giảm thuế thì cũng phải giảm chi, và Quốc hội do đa số Dân chủ nắm quyền, đã không giảm chi mà còn tăng chi. Cuộc tranh luận đó, đến nay vẫn còn là thời sự.

Thứ hai, “Liên xô là Đế quốc Độc ác”. Reagan nhậm chức giữa cao điểm của phong trào phản chiến và chủ trương hòa giải với Liên bang Xô viết. Ông tạo ra cuộc cách mạng khi nói thẳng cảm nghĩ của mình về chủ nghĩa cộng sản, trước sự giật mình lo sợ của giới ngoại giao, và mở ra cuộc thi đua võ trang làm Liên xô hụt hơi, từ từ đi vào tan rã. Ngược với cảm nghĩ của nhiều người, Reagan không là kẻ hiếu chiến. Dù trực tiếp đả kích Liên xô, ông gây dựng được một mối giao tình đặc biệt với Tổng bí thư Mikhael Gorbachev, thuyết phục Gorby cùng ký kết các thỏa ước tài giảm binh bị, nhất là giải trừ các hỏa tiễn nguyên tử tầm trung. Reagan ghét võ khí nguyên tử và bày ra một cuộc chiến khác để đánh gục Liên xô. Người ta hay nói đến kế hoạch mơ hồ của Reagan là phòng thủ không gian bằng siêu kỹ thuật, được truyền thông ngốc nghếch đặt tên Stars War theo bộ phim khoa học giả tưởng. Nhưng, Reagan cũng là người thuyết phục Saudi Arabia bơm dầu thật mạnh, để giá dầu sụt dưới giá thành của Liên xô! Reagan đánh cho Liên xô bị cạn vốn. Vài năm sau khi Reagan thách thức Gorbachev: “Hãy hạ bức tường đó xuống”, bức tường Bá Linh sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc... không tốn một viên đạn, như lịch sử ghi lại.
Nhưng, như thường lệ, lịch sử vẫn bất công về Reagan và di sản của ông.
Ronald Reagan lên cầm quyền sau khi nước Mỹ bị hai cuộc khủng hoảng nhập một. Vụ thảm bại Việt Nam và phá sản của chính trị hoạt đầu kiểu Nixon đã đưa xu hướng lý tưởng ngớ ngẩn Jimmy Carter lên cầm quyền, với nhân sinh quan bi đát, trong một nước Mỹ ôm ấp sự hoài nghi yếm thế như niềm đau cao thượng, trước sự khinh thường của đối phương. Vụ Iran bắt giữ con tin và Liên xô uy hiếp Âu châu trong khi kinh tế Mỹ sa sút vì lạm phát và suy trầm là kết quả. Reagan đảo ngược xu thế bi quan đó bằng sự lạc quan và niềm tự tin không gì lay nổi. Ông dựng con bệnh dậy, thúc đẩy Hoa Kỳ tìm hòa bình bằng sức mạnh. Tinh thần lạc quan và tự tin là di sản tinh thần của Reagan, nó giải thích đường lối lãnh đạo của ông. Đó là một.
Ronald Reagan không thích chuyện trừu tượng và lý luận cao xa uyên bác. Những người từng cộng tác với ông đều nói đến thói quen Reagan là ghét con số hay ý niệm phức tạp. Là người cực kỳ thực tế, ông luôn luôn tìm ra cách trình bày những điều phức tạp đó cho đơn giản, ở tầm hiểu biết bình thường của người bình thường. Và ông còn có khả năng thiên phú là có óc khôi hài, có khả năng tự châm biếm, để duyên dáng thuyết phục được quần chúng, đồng minh lẫn đối thủ. Trí tuệ của ông là ở đó.
Ronald Reagan là người quả quyết và đởm lược. Ông luôn luôn đi ngược lời khuyên của các thuộc cấp, đều là những người siêu đẳng, để nói thẳng nói thật. Chuẩn bị thăm viếng Berlin, ông cho người tìm hiểu xem dân Đức muốn gì, thay vì nghĩ là mình, chính quyền Mỹ, muốn gì. Kết quả là câu thách đố nổi danh lịch sử về bức tường Berlin đã làm lịch sử chuyển động. Ông có tinh thần của người làm cách mạng và không sợ đi ngược trào lưu.
Ronald Reagan được mọi người yêu quý vì khéo nói. Người ta còn cho rằng tài diễn xuất của ông là một ưu điểm. Mọi chính trị gia đều phải là nghệ sĩ trình diễn, Reagan là tài tử hạng B và không tìm cách trình diễn. Ông có sự nồng nhiệt ngay từ trong tâm, nói chuyện với ai cũng bày tỏ sự quý trọng với người đó, bất kể chức vụ cao hay thấp. Bản chất của ông là người có lòng nhân, một ý niệm tưởng như lạc lõng trong chính trường Mỹ. Bản chất đó mới dẫn đến sức thuyết phục đó.
Ronald Reagan là người kính trọng chức vụ mình đảm nhiệm. Trong phòng làm việc, ông không khi nào cởi áo (đừng nói tới những việc kỳ cục khác của Bill Clinton) và để lại một câu nói thời danh: “Chức vụ này cho phép ta thực hiện được nhiều kỳ vọng, miễn là đừng làm thế để thành danh với hậu thế”. Ông không tìm cái danh cho mình nên có tự do trong từng quyết định, và gây lại được sự kính trọng cho tòa Bạch Ốc sau những thủ đoạn của Nixon hay lúng túng của Carter.
Nhưng tại sao lại nói rằng Ronald Reagan biết chọn cách ra đi thích hợp với nhân sinh quan của mình" Ông bị bệnh tâm trí thì còn chọn được gì"
Reagan là người ngoan đạo, sùng tín mà không cuồng tín, nhưng không đi lễ nhà thờ khi có ống kính truyền hình. Thượng Đế của ông có lẽ đã chứng giám nguyện vọng của ông.
Reagan giã từ cuộc đời vào đúng tuần lễ cả thế giới và nước Mỹ tưởng niệm 60 năm vụ đổ bộ tại Normandie năm 1944, cuộc tổng phản công dẫn tới chiến thắng năm sau. Cái chết của ông làm thế giới và nước Mỹ xúc động, làm Tổng thống George W. Bush có một cái thế thuyết phục bất ngờ. Cái chết của ông cũng khiến dư luận Mỹ tìm lại sự tự tin và tinh thần lạc quan khi tình hình Iraq đang xoay chuyển và có hy vọng ổn định. Cái chết của ông giữa mùa bầu cử là một nhắc nhở cho mọi chính khách: có thể không đồng ý với nhau nhưng vẫn phải kính trọng nhau. Nó có tác dụng đoàn kết.
Ronald Reagan vì vậy làm người ta liên tưởng đến những nhà văn nhà thơ vĩ đại, với khả năng hàn gắn nhờ nghệ thuật của họ.
Cả thế giới đều nói đến hai bài diễn văn kỷ niệm ngày đổ bộ Normandie. Bài của ông Bush nhân 60 năm, và bài của Reagan nhân 40 năm. Có ai nói đến bài diễn văn nhân 50 năm, một thời điểm cũng đáng ghi nhớ vậy" Không ai nói đến Bill Clinton trong dịp này, dù ông còn sống ngờ ngờ, khỏe mạnh và còn đầy ảnh hưởng trong đảng Dân chủ.
Di sản của Clinton không có gì dưới cái bóng vĩ đại của Reagan. Đảng Cộng hòa vừa mất một lãnh tụ, nhưng được Reagan chúc phúc trước khi lặng lẽ bước lên đỉnh đồi...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.
Ở Hy Lạp thời cổ đại, Thế vận hội Olympics không chỉ là sự kiện để các vận động viên thể hiện sức mạnh và tài năng, mà còn là dịp để những tâm hồn thi ca tỏa sáng – họ sẽ mang những vầng thơ của mình xướng lên trước đám đông khán giả đang háo hức. Và thời đó, các vận động viên cũng thường cậy nhờ những thi sĩ nổi tiếng sáng tác những bài thơ ca ngợi chiến thắng vinh quang của mình. Sau đó, những bài thơ này sẽ được các dàn hợp xướng biểu diễn trong các buổi lễ long trọng. Có một thời văn-võ đã song hành với nhau như thế.
Kể từ khi thượng nghị sĩ JD Vance được chỉ định làm ứng viên phó tổng thống của Donald Trump, các nhà bình luận đã xem xét lại cuốn hồi ký “Hillbilly Elegy” năm 2016 của Vance để tìm hiểu về bối cảnh chính trị hiện nay của Hoa Kỳ. Tám năm trước, Vance là người không bao giờ chấp nhận Trump (Never-Trumper), từng so sánh chủ nghĩa Trump (Trumpism) với “heroin văn hóa,” trong một bài viết trên tạp chí The Atlantic. Tuy nhiên, cuốn hồi ký của Vance là một tài liệu quan trọng để giải thích tại sao chính trị Hoa Kỳ ngày nay lại chuyển hướng ủng hộ Trump.
Từ khi Julius Caesar lìa đời với câu “Et tu, Brute?” (xin tạm dịch: “Cả ngươi nữa sao, Brutus?”), các vụ ám sát chính trị đã không phải là chuyện gì hiếm có. Nhưng liệu với sự phát triển của xã hội thời hiện đại, số lượng các vụ ám sát chính trị có giảm bớt hay không? Liệu vụ ám sát bất thành cựu Tổng thống Donald Trump có phải là một sự kiện ngoại lệ trong các nền dân chủ hiện đại?
Hình ảnh của súng trường bán tự động AR-15 xuất hiện khắp nơi trong đời sống công cộng của nước Mỹ: các nghị sĩ Cộng hòa đeo những chiếc huy hiệu hình AR-15. Cờ Liên minh bay với hình bóng của một khẩu AR-15 và dòng chữ "come and take it" bên ngoài Điện Capitol trong cuộc bạo loạn ngày 6 tháng 1. Chúng cũng được sử dụng để kêu gọi các biện pháp an toàn súng nghiêm ngặt hơn.Vào thứ Bảy vừa qua, khẩu AR-15 xuất hiện trên chính trường Mỹ theo một cách khác – là vũ khí được sử dụng trong vụ ám sát cựu tổng thống Donald Trump.
Campuchia có kế hoạch xây dựng kênh đào Funan Techo Canal (FTC) dài 180 km (110 dặm) từ thủ đô đến bờ biển trên Vịnh Thái Lan, một dự án trị giá 1,7 tỷ USD nhằm giảm sự phụ thuộc vào việc vận chuyển hàng hóa qua các cảng ở Việt Nam. Nhưng bài phân tích này kết luận rằng kế hoạch FTC không khả thi về mặt tài chính, sẽ có tác động môi trường nghiêm trọng và sẽ làm tình trạng khan hiếm nước ở hai nước hạ lưu thêm khắc nghiệt khi mực nước sông Mekong đã hạ xuống cực kỳ thấp dưới kỷ lục thấp nhiều năm liền rồi. Lập luận của chính phủ Campuchia rằng kênh đào sẽ làm cho vận tải hàng hóa rẻ hơn là điều không thế có, tính toán sơ bộ của tác giả cho thấy cước phí vận chuyển hàng hóa qua kênh này sẽ cao hơn so với qua các cảng ở Việt Nam để đến các nước có Mậu dịch nhiều nhất với Campuchia.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.