Hôm nay,  

Xuống Núi

25/02/200500:00:00(Xem: 6062)
Xuống núi, hay nói một cách văn vẻ hơn là hạ sơn, thường để chỉ về sự kiện những nhà tu hành đã đắc đạo hoặc đạt đạo tới mức nào đó, có thể rời thạch động với mục đích đem sự chứng ngộ của mình mà chia xẻ cùng nhân gian. Nghĩa là, khi lên núi thì rất âm thầm nhưng khi xuống núi, các ngài đã là người đại diện Chư Phật, Chư Bồ Tát rao giảng lời Phật dạy và được thế nhân tôn kính.
Nhưng với môn thể thao leo núi thì ngược lại. Với những người chinh phục núi cao, đường lên núi mới chứng tỏ công lực; Và, tới được đỉnh núi là tột cùng vinh quang. Đường xuống núi lại hoàn toàn thầm lặng, bao nhiêu hãng truyền thanh truyền hình bám sát đường lên núi, nay đi đâu hết cả, chẳng ai buồn biết thêm về đường xuống núi của người hùng ra sao. Nhưng có can chi, vì cái mốc “Tới” của người leo núi đã được chứng minh rõ rệt bằng hình ảnh hân hoan ngạo nghễ trên đỉnh núi, giơ cả hai tay ra mà chào trời, chào mây, chào gió, chào trăng sao. Còn mốc “Đạt” của nhà tu hành thì hơi khó thấy khi quý ngài hạ sơn. Phải có thời gian năm, ba năm, có khi hàng chục năm, sau khi quý ngài hoằng pháp đó đây, may ra chúng sanh vô minh mới có thể tạm nhận ra quý ngài đã “Đạt”, đã “Đắc” thế nào khi quý ngài hạ sơn thuở nọ! Chẳng thế mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, vị Giáo chủ Phật giáo Tây Tạng được cả thế giới tôn kính đã phải lên tiếng với tiểu đề “Tình thầy trò” trong cuốn “Từ Bi và kẻ thù” rằng, nhiều khi chúng ta cần một thời gian khá dài đến 10, hoặc 12 năm để quan sát đức hạnh và khả năng giảng dạy của giảng sư mới có thể biết vị đó có thực có khả năng và đạo hạnh cho ta đặt lòng tin và kính trọng hay không. Ngài còn nhắc, chính Đức Phật cũng dạy rõ điều này trong kinh điển, rằng ta không nên xem các vị thầy như thần thánh để tránh thất vọng khi sự thật không như vậy; vì một vị thầy tâm linh có nhiệm vụ truyền bá Phật pháp, hướng dẫn tinh thần kẻ khác mà lại phạm những lỗi lầm mà ông thường khuyên học trò nên tránh, là điều vô cùng tệ hại.
Đọc được những lời căn dặn trên, từ vị giáo chủ Phật giáo Tây Tạng đang được cả thế giới kính ngưỡng, hàng Phật tử sơ cơ như tôi bỗng vô cùng hoang mang. Tôi tin rằng, bất cứ người Phật tử nào mang một chút tín tâm mong cầu học đạo cũng cố gắng dọ dẫm tìm tới nơi mà họ “nghe đồn” là có vị thầy giảng pháp hay lắm. Khi đã tìm đến thì không phải chỉ nghe dăm ba lần là có thể khẳng định lời đồn đúng hay sai, vì khả năng của Phật tử lò dò tìm đạo cũng ví như học trò ngơ ngác buổi đầu cắp sách đến trường, chỉ biết, thầy thì phải giỏi là cái chắc, bởi không giỏi, sao được làm thầy" Đó là tâm trạng của phần đông những người đi tìm thầy. Lại nữa, hầu hết những điều thầy nói, thầy giảng là những điều trò chưa biết, chưa nghe, làm sao biết là thầy nói đúng hay sai trước khi trò có thời gian nghiền ngẫm, suy nghĩ về bài học" Do đó mà học trò muốn học chỉ còn cách cắm cúi tuân thủ lời thầy, hy vọng một mai sáng dạ. Chính cái thời gian “nhắm mắt nhắm mũi cắm cúi học” đó đã vô tình giúp thầy trò nhìn rõ nhau, tuy thầm lặng, tuy chậm rãi nhưng chính là thời gian quý báu để nhận thức bản chất của đối tượng. Chỉ có điều đáng thương là, nếu thời gian đó quá dài, có thể cần từ 10 đến 12 năm như Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói, “trò mới nhận ra thầy thực chưa phải minh-sư” thì e rằng niềm tin của Phật tử về ngôi “Tăng” sẽ lung lay như cây non trước bão tố; và điều quan trọng là, từ sự đau khổ ấy Phật tử có đứng dậy nổi để can đảm đi lại từ đầu con đường “Tầm sư học đạo” nữa hay không " Nếu không, thì phải làm sao " Nếu có, thì phải bắt đầu thế nào để tương đối tránh được thất bại như lần trước "
Với cái đầu ưa nghĩ quẩn như tôi, gặp sự nan giải này, chẳng lẽ ngồi khóc " Tôi bèn “thử” đặt mình vào trường hợp không may này xem sao. Tôi trải chiếu, nhắm mắt, ngồi bán già một lúc, chỉ nghĩ ra được giải pháp không mấy thông minh nhưng thực tế, dễ áp dụng và nhất là tiết kiệm được thời gian. Đó là, THẦY GIẢNG CÂU GÌ, TRÒ CỨ NHÌN NGAY BẢN THÂN THẦY Ở CÂU ĐÓ. Tạm thí dụ những câu thông thường nhất mà không người Phật tử nào không từng nghe, chẳng hạn như, thầy giảng về Từ Bi Hỷ Xả thì sau buổi giảng, thay vì thỉnh cuốn băng về nghe ngày nghe đêm, trò hãy chỉ lẳng lặng “nhìn” thầy, từ cách hoằng pháp tới sinh hoạt thường ngày thầy có thực sự thể hiện lòng vị tha (Từ Bi) cứu độ chúng sanh không, hay chỉ là vị kỷ" Thầy có mở rộng lòng ban vui và vui với cái vui của người (Hỷ) không" Thầy có buông bỏ được toan tính hơn thua, đố kỵ nghi hoặc (Xả) để tâm thanh tịnh đạt được hài hòa với mọi người mọi loài không" Hoặc khi thầy giảng về Tham Sân Si, thầy có biết “đủ” để đừng muốn thêm những cái không cần thiết (tham); thầy có nổi nóng (sân) khi gặp điều bất toại ý; thầy có mất tự chủ mà hành xử như người thiếu trí tuệ (si) không …v…v…

Tôi cũng hiểu lơ mơ rằng, nhiều khi “thầy nghiêm khắc thế mà không phải thế”. Thầy chỉ dùng “phương tiện nghiêm khắc” để giáo hóa trò mà thôi. Đó có thể là cách các thiền sư xử dụng, đôi khi mạnh bạo như gậy gộc, đánh đập, đôi khi cộc cằn như la hét, mắng chửi, xua đuổi …v…v…Nhưng qua những giai thoại Thiền mà tôi được nghe hoặc được đọc thì VỊ THIỀN SƯ CHỈ DÙNG NHỮNG PHƯƠNG TIỆN VŨ BÃO ĐÓ KHI BIẾT LÀ SỞ HỌC CỦA ĐỆ TỬ ĐÃ CHÍN MÙI, giáng cho một đòn mạnh, trò có thể ngộ. Khi đó thì đánh đập, la mắng đúng là từ bi, là phương tiện giúp trò đạt ngộ. Nhưng thường xuyên chửi rủa, la mắng khi trò chưa đủ khả năng tiếp nhận thì sự nghiêm khắc này, e rằng không phải là lòng từ bi ! Giai thoại thiền nổi tiếng mà ai học thiền cũng biết là câu chuyện “cầu pháp an tâm” của ngài Huệ Khả cầu đạo Tổ Đạt Ma. Khi nghe Tổ Đạt Ma đang thiền trên núi Thiếu Thất, ngài Huệ Khả đã trèo đèo lội suối tìm đến cửa động dưới trời giá băng, mưa tuyết, quỳ ngoài cửa 7 ngày 7 đêm, tuyết phủ gần kín người mà Tổ Đạt Ma chẳng hề đoái hoài. Vì muốn chứng tỏ quyết tâm cầu đạo, ngài Huệ Khả dùng đao chặt đứt cánh tay trái, cúng dường Tổ. Vậy mà Tổ Đạt Ma chỉ quay lại hỏi: “Ngươi dùng chút khổ hạnh nhỏ này để cầu việc chi "” Ngài Huệ Khải kính cẩn thưa rằng: “Bạch Hòa Thượng, con chỉ cầu một việc là xin Hòa thượng chỉ cho con pháp an tâm vì tâm con luôn luôn bất an”. Tổ Đạt Ma nhìn ngài Huệ Khả đăm đăm rồi bất chợt quát to lên, tưởng đến long trời lở đất: “Đem cái tâm bất an của ngươi ra đây, ta an cho”. Ngài Huệ Khả nghe Tổ quát lớn, không kịp suy nghĩ gì, chỉ vội vã tuân theo lời quát là quay lại tự tâm, tìm cái tâm bất an để trình Tổ; thì ngay khi nhìn lại tâm mình một cách sâu sắc, thuần khiết, mới nhận ra sự bất an vốn không thật, đó chỉ là niệm vọng tưởng. Đã là vọng mà bị nhìn thấy, vọng lập tức biến mất. Ngài Huệ Khả ngơ ngác thưa: “Bạch Hòa Thượng, cái tâm bất an của con đâu mất, con tìm không thấy, lấy không ra”. Lúc đó Tổ Đạt Ma mới dịu dàng bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Ngay câu đó, ngài Huệ Khả đạt đại ngộ.
May mắn thay cho ngài Huệ Khả đã được Tổ Đạt Ma dùng tuệ nhãn thấy rõ sở học bền bỉ nhiều năm và lòng quyết tâm tìm giải thoát; chỉ kẹt nơi pháp chấp văn tự mà ngài Huệ Khả chưa nhận rõ Phật-tánh thanh tịnh của mình, vọng niệm mới “đánh lừa” ngài là tâm đạo bất an. Tiếng quát lớn của Tổ chính là giúp ngài Huệ Khả DỪNG VỌNG, HIỆN CHÂN. Tiếng quát trong phút giây đó là bàn tay từ bi đưa ra, kéo người cầu đạo khỏi bờ mê, tới bến giác.
(Nhưng, nếu cũng tiếng quát này, gặp hàng Phật tử như tôi là bay hồn bạt vía, chết giấc xuống chín tầng địa ngục còn chưa hiểu tại sao bị quát, huống chi là hiểu đạo!)
Vì biết căn cơ chúng sanh muôn người chẳng đồng như thế nên Đức Phật mới từ bi đặt ra tới tám mươi bốn ngàn pháp môn; xin quý thầy cũng từ bi nương căn chúng sanh mà dạy dỗ. Suốt 49 năm hoằng pháp, bao nhiêu kinh điển để lại cho hậu thế đều mô tả rõ ràng từng lời Phật nói, dù đôi khi lời nói đó chỉ là một câu ngắn ngủi, Phật cũng thể hiện đời sống mình qua câu đó, tuyệt đối không khác, không sai. Đệ tử theo Phật chỉ cần nhìn Phật là thấy ngay những BÀI-PHÁP-SỐNG, đầy linh động cho sự thực tập.
Ngày nay, nếu vị thầy giảng dạy điều gì mà bản thân các ngài thể hiện đúng như lời dạy, thì chính là các ngài đang mang những bài pháp ngàn xưa, từ Thế-Giới- Tích-Môn mà dựng thành những tấm gương ngay nơi Thế-Giới-Bản-Môn cho Phật tử hiện đời noi theo. Được như thế thì Phật tử ngày nay cũng có phước duyên hưởng hạnh phúc lớn lao không thua gì 1250 vị Tỳ-Kheo được theo Phật từng bước, như lời Tôn giả Anan thường mở đầu trên mỗi pho Kinh.
Diệu Trân
Tháng Hai 2005

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có phải bạn rất đỗi ngạc nhiên về tiêu đề của bài viết này? Có thể bạn nghĩ rằng chắc chắn có điều gì đó không ổn trong câu chuyện này, bởi vì lịch sử về cuộc đời của đức Phật xưa nay không hề thấy nói đến chuyện đức Phật đi tới Châu Âu và Châu Phi. Bạn nghĩ không sai.
✱ CIA: Thiếu tướng Phan Văn Phú, đã gặp TT Thiệu ngày hôm qua (16.3.1975) và thất bại trong nỗ lực thuyết phục tổng thống gửi thêm viện binh đến cao nguyên miền Trung. ✱ Tướng Phú: Tổng Thống Thiệu đã chà đạp danh dự tôi khi ông công khai đổ lỗi cho tôi về chuyện mất Cao nguyên Trung phần ✱ Tướng Trưởng: Lệnh của Tổng Thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân Đoàn I vào ngày 13 tháng 3, và rút Quân Đoàn II vào ngày 14 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới. ✱ TT Thiệu: Vì thiếu đạn dược, chúng tôi phải kiếm từng viên đạn. Chúng tôi đã mất nhiều xe tăng và đại bác. Hoa Kỳ không thực hiện những thay thế như đã cam kết - vì thế, chiến cụ của chúng ta đã bị giảm dần: đó là lý do tại sao chúng ta thua cuộc.
Quá trình hoạt động căn bản của trí óc luân chuyển trong bốn giai đoạn: tiền ý thức (preconscious), ý thức (conscious), tiềm thức (subconscious), và vô thức (unconscious). Từ ngữ ‘ý thức’ có nguồn gốc từ ngôn ngữ Latin ‘biết’ và ‘nhận thức’. Ý thức là biết về nhận thức sự tồn tại và suy nghĩ của một người. Theo định nghĩa của tâm lý gia Sigmund Freud, ý thức chứa tất cả những suy nghĩ, ký ức, cảm xúc và mong muốn mà chúng ta nhận thức được tại bất kỳ thời điểm nào. Đây là quá trình xử lý tinh thần mà chúng ta có thể suy nghĩ và nói về nó một cách hợp lý.
Cựu Tổng Thống Jimmy Carter (Dân Chủ) nhậm chức vào ngày 20-1-1977, hai năm sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Người tiền nhiệm của ông là cố Tổng Thống Gerald Ford đã chứng kiến Saigon thất thủ trong cơn hỗn loạn. Carter là người trách nhiệm lèo lái nước Mỹ thời hậu chiến trong khi chiến tranh lạnh sôi động khắp nơi trên thế giới. Sau Việt Nam, năm nước khác lần lượt trở thành cộng sản, gia nhập vào trục Mặc Tư Khoa – Băc Kinh, như Lào (1975), Campuchia (1975), Angola (1975), Nicaragua (1979), Grenada (1979). Tuy nhiên, đợt bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản sau chiến tranh Việt Nam ít hơn đợt một với 12 nước đi theo XHCN xẩy ra sau khi Thế Chiến II chấm dứt.
Gửi ngót 20 triệu cư dân ĐBSCL không được quyền có tiếng nói Gửi Nhóm Bạn Cửu Long Đây là bài thứ 2 viết về 48 năm cải tạo Đồng Bằng Sông Cửu Long của nhà nước CS Việt Nam đã và đang phá huỷ cả một vùng châu thổ phì nhiêu nhất Châu Á và cũng là của thế giới, và làm nghèo cả một đất nước ra sao.
Vùng Đông Nam Á có 11 quốc gia bao gồm hơn 550 triệu dân. Mặc dù có sự đa dạng lớn về ngôn ngữ và văn hóa, khu vực này có đặc điểm là vị trí của phụ nữ tương đối thuận lợi so với các nước láng giềng Đông Á hoặc Nam Á. Điều này từng được giải thích bởi một số yếu tố: theo truyền thống, quan hệ họ hàng được biểu hiện thông qua cả dòng bên mẹ và dòng bên cha; con gái không phải là gánh nặng tài chính vì tục lệ nhà trai phải trả tiền hay hiện vật cho nhà gái lúc cưới (bride price) (2); một cặp vợ chồng thường hay sống với hoặc gần cha mẹ của người vợ; phụ nữ có vai trò nổi bật trong các nghi lễ bản địa; lao động của họ rất cần thiết trong lĩnh vực nông nghiệp, và họ chiếm lĩnh các chợ địa phương
Năm mươi lăm năm trôi qua, sự thật về cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 đã được phơi bày ra ánh sáng bởi rất nhiều tài liệu giá trị, đúng đắn và đáng tin cậy, gồm hồ sơ mật của CIA, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Nhưng, chính quyền CSVN cho đến nay vẫn không dám công khai thừa nhận thất bại và sai lầm của họ trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân, mà trong đó họ đã lợi dụng ngày Tết cổ truyền thiêng liêng nhất của dân tộc để mở các cuộc tấn công và giết hại thường dân vô tội, như trường hợp thảm sát hàng ngàn sinh mạng tại Huế. Tại sao? Một chế độ không dám nhìn nhận sự thật như thế, dù đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận, thì có phải là một chế độ đáng để người dân tin cậy chăng? Xin cầu nguyện cho tất cả những nạn nhân của biến cố Tết Mậu Thân được siêu thoát.
✱ HĐ Tham Mưu Trưởng LQ/JCS: Tổng thống Kennedy và Johnson đều không tin tưởng vào các cố vấn quân sự của họ, vì cho rằng các tướng lĩnh và đô đốc thiếu sự tinh tế về mặt chính trị - Giới quân sự bất bình vì "coi lực lượng quân sự là công cụ để thương lượng về mặt ngoại giao". ✱ McNamara: Một khi bổ sung quân số sẽ tăng thêm chi phí về nhân sự, về chính trị và kinh tế do cuộc chiến gây ra, làm suy giảm khả năng của quốc gia một khi cuộc chiến kéo dài. ✱ JCS: McNamara chủ trương tìm kiếm một giải pháp hòa đàm về cuộc chiến - thúc giục Hà Nội đi đến bàn đàm phán hòa bình...
Vậy “bánh Dày” phải có nghĩa là “bánh Trắng”, có lẽ dễ hiểu hơn là dày phản nghĩa với mỏng hay dày vò như vài người đã cắt nghĩa. Từ đây, phải chăng “Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” của Nguyễn Du tả nét đẹp thân thể nàng Kiều cũng có nghĩa là trắng. Nét đẹp này hoàn toàn phù hợp thẩm mỹ quan của Việt Nam xưa nay. Người phụ nữ đẹp phải có nước da trắng. Nó vừa đẹp, vừa sang vì không phải lam lũ dưới mưa nắng...
Tết Nguyên Đán (Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới. Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri tâm tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý (ăn quả nhờ kẻ trồng cây) và tình nghĩa xóm làng ...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.